TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 481/2023/HSPT Ngày: 30/11/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên
Các thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến.
Ông Dương Lê Bửu Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 403/2023/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 412/2023/QĐXXPT-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo: Nguyễn Anh H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/02/2005; Nơi sinh: Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện tại: Phòng trọ nhà bà H2, tổ D, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Nguyễn Anh D, sinh năm 1976 (còn sống); Họ tên mẹ: Phạm Thị H3, sinh năm 1983 (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 15/01/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo H1: Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: P nhà bà H2, tổ D, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
* Bị hại: Anh Lê Sỹ Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số C, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh H1 và Võ Minh D1 (cư trú tại: Thôn B, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) có quan hệ bạn bè. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 05/01/2023, H1 rủ D1 đi trộm cắp tài sản, thì D1 đồng ý. Tiếp đó, H1 điều khiển xe mô tô biển số 63L1-4522, chở D1 đến nhà trọ địa chỉ: số C, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B do anh Lê Sỹ Đ (sinh năm 1991) thuê để ở. Khi đến nơi, H1 và D1 phát hiện xe mô tô biển số 60F1-142.52 của anh Đ đang dựng tại hành lang dãy nhà trọ trên. H1 đứng ngoài canh chừng, D1 đi vào dắt xe mô tô trên. Sau khi lấy trộm được xe, H1 điều khiển xe mô tô biển số 60F1-142.52 đã trộm được, D1 điều khiển xe mô tô biển số 63L1-4522 dùng chân đẩy xe mô tô 60F1- 142.52 đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai điều khiển xe đi đến trước cổng Trường trung học cơ sở Đ1, đường Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra Công an phường T chặn lại và phát hiện xe mô tô biển số 60F1-142.52 là tài sản trộm cắp. Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Anh H1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô biển số 60F1-14252 là tài sản của anh Lê Sỹ Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho anh Đ.
- 01 xe mô tô biển số 63L1- 2522, H1 sử dụng để đi trộm cắp tài sản, qua xác minh người đứng tên đăng ký xe là bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1980 (hiện đã sang Hoa Kỳ sinh sống), H1 khai mua xe trên tại tiệm cầm đồ T, đường Đ, phường T, thành phố B. Do chưa làm rõ được nguồn gốc xe, nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận xe mô tô biển số 60F1-142.52 trị giá là 4.250.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 0042/ĐT ngày 17/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận Nguyễn Anh H1 là 17 tuổi 09 tháng (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 13/01/2023.
Tại bản kết luận giám định số 0043/ĐT ngày 17/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y, kết luận Võ Minh D1 là 16 tuổi 06 tháng (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 13/01/2023. Đối với Võ Minh D1 do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không khởi tố bị can đối với D1.
2
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Sỹ Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xét xử như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 15/01/2023.
- - Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
* Ngày 13/9/2023 Nguyễn Anh H1 nộp đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số: 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 6 tháng tù là quá nghiêm khắc, chưa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Hành vi của bị cáo H1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ xét xử bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp, không nghiêm khắc như kháng của cáo bị cáo đã nêu, bị cáo xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo H1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H1 làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H1 cho rằng cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 6 tháng tù là quá nghiêm khắc, chưa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét thấy, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 05/01/2023, tại dãy nhà trọ địa chỉ số C, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B. Nguyễn Anh H1 và Võ Minh D1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60F1-142.52 trị giá 4.250.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Lê Sỹ Đ. Sau khi trộm được tài sản, H1 và D1
3
đem đi tiêu thụ tại tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Tại cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Anh H1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo H1 người rủ D1 đi trộm cắp tài sản, là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vì muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Tại cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội: Bị cáo tại thời điểm phạm tội là người dưới 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã xem xét quyết định cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội khi tuổi bị cáo còn nhỏ (tính đến ngày phạm tội thì bị cáo mới chỉ 17 tuổi 5 tháng 29 ngày), khả năng nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, không thấy hết được tính nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội của mình gây ra.
Căn cứ vào Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Bị cáo Nguyễn Anh H1 phạm tội thuộc trường hợp từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Từ những nhận định nêu trên, cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 6 tháng tù là phù hợp, không nghiêm khắc như kháng của cáo bị cáo đã nêu; bị cáo xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo H1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 441/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 15/01/2023.
- - Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh H1 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vĩnh Yên |
5
Bản án số 481/2023/HSPT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 481/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh H - Trộm cắp tài sản
