Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 481/2024/DSPT

Ngày: 28/5/2024

Về việc Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán: 1. Bà Vũ Thị Thu Hương

2. Bà Đặng Huyền Phương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 391/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1340/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cù Xuân B, sinh năm: 1961 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Viết H, sinh năm: 1986 (Có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: B Chung cư S, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 23/8/2023);

Bị đơn: - Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Mỹ.

Địa chỉ: Số B đường N, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Ngọc Bảo T, sinh năm 1995;

(theo Giấy ủy quyền ngày 25/01/2024) (Có mặt);

Địa chỉ: Số B đường N, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Tạ Minh T1-Luật sư Công ty L. Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Địa chỉ: L, Tầng A, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; biên bản hòa giải cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn Ông Cù Xuân B có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Viết H trình bày:

Ông B có cho Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Q vay tiền nhiều lần, mỗi lần đều có làm hợp đồng vay tiền như sau:

  1. Ngày 30/9/2020, vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/tháng thời hạn đến ngày 30/3/2021;
  2. Ngày 01/10/2020 vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/tháng thời hạn đến ngày 30/3/2021;
  3. Ngày 05/10/2020, vay số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) lãi suất 2.5%/tháng thời hạn đến ngày 05/4/2021;
  4. Ngày 19/11/2020, vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/tháng thời hạn đến ngày 19/5/2021;
  5. Ngày 03/6/2021, vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/tháng thời hạn đến ngày 03/6/2022;

Tuy nhiên đến hạn trả nợ Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Quốc Tế M không trả tiền theo thỏa thuận mà đưa ra rất nhiều lý do để hứa và khất nợ. Ông B đã rất nhiều lần tạo điều kiện cho T2 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Q trả nợ nhưng vẫn không chịu trả nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Sau nhiều lần đôn đốc Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và T Phổ Thông Quốc Tế M mới tất toán khoản vay ngày 30/9/2020 và trả một phần lãi cho khoản vay ngày 01/10/2020 là 500.000.000 đồng (Cụ thể ngày 31/3/2023 trả 200.000.000 đồng, ngày 30/6/2023 trả 100.000.000 đồng, ngày 14 tháng 7 trả 100.000.000 đồng ngày 22 tháng 7 trả 100.000.000 đồng).

Theo quy định tại điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Điều 5. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015

Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:

  1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);

  2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
    1. Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.

      Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc).

    2. Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

      Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x (lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc);

    3. Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

      Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc).

Điều 6. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả

  1. “Thời điểm xét xử sơ thẩm” hướng dẫn tại Nghị quyết này là ngày Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại.
  1. “Thời điểm trả nợ” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này là thời điểm xét xử sơ thẩm.
  2. “Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:
    1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo;
    2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
    3. Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Q còn nợ ông Cù Xuân B tổng số tiền cụ thể như sau:

  1. Khoản vay theo hợp đồng ngày 01/10/2020 vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/ tháng thời hạn đến ngày 30/3/2021;

    Nợ lãi trong hạn từ ngày 01/10/2020 đến ngày 30/3/2021 là 180 ngày là 1.000.000.000x180x20%/365 = 98.630.137 đồng.

    Nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 30/3/2021 đến 29/01/2024 là 1035 ngày là 1.000.000.000x1035x30%/365=850.684.931 đồng.

    Nợ lãi trên nợ lãi trong hạn tạm tính từ ngày 30/3/2021 đến 29/01/2024 là 1035 ngày là: 98.630.137x1035x10%/365 =27.967.723đồng.

  2. Khoản vay theo hợp đồng ngày 05/10/2020, vay số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) lãi suất 2.5%/ tháng thời hạn đến ngày 05/4/2021;

    Nợ lãi trong hạn từ ngày 05/10/2020 đến ngày 05/4/2021 là 182 ngày là 3.000.000.000x182x20%/365 = 299.178.082 đồng.

    Nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 05/4/2021 đến 29/01/2024 là 1029 ngày là 3.000.000.000x1029x30%/365=2.537.260.273 đồng.

    Nợ lãi trên nợ lãi trong hạn tạm tính từ ngày 05/4/2021 đến 29/01/2024 là 1029 ngày là: 299.178.082x1029x10%/365 =84.343.629 đồng.

  3. Khoản vay theo hợp đồng ngày 19/11/2020, vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/ tháng thời hạn đến ngày 19/5/2021;

    Nợ lãi trong hạn từ ngày 19/11/2020 đến ngày 19/5/2021 là 181 ngày là 1.000.000.000 x 181 x 20%/365 = 99.178.082 đồng.

    Nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/5/2021 đến 29/01/2024 là 985 ngày

là 1.000.000.000 x 985 x 30%/365 = 809.589.041 đồng.

Nợ lãi trên nợ lãi trong hạn tạm tính từ ngày 19/5/2021 đến 29/01/2024 là 985 ngày là là: 99.178.082 x 985 x 10%/365 = 26.764.496đồng.

  1. Khoản vay theo hợp đồng ngày 03/6/2021, vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) lãi suất 2.5%/ tháng thời hạn đến ngày 03/6/2022;

    Nợ lãi trong hạn từ ngày 03/6/2021 đến ngày 03/6/2022 là 365 ngày là 1.000.000.000 x 365 x 20%/365 = 200.000.000 đồng.

    Nợ lãi quá hạn tạm tính từ ngày 03/6/2022 đến 29/01/2024 là 605 ngày là 1.000.000.000 x 605 x 30%/365 =4 97.260.273 đồng.

    Nợ lãi trên nợ lãi trong hạn tạm tính từ ngày 03/6/2022 đến 29/01/2024 là 605 ngày là : 200.000.000 x 605 x 10%/365 = 33.150.685đồng.

Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết buộc Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Q trả cho ông Bảo toàn b số nợ: Nợ gốc 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng) và nợ lãi tạm tính đến ngày 29/01/2024 là 5.234.289.059 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung Học Phổ Thông Q phải trả cho ông Cù Xuân B là: 11.234.289.059 đồng (Mười một tỷ hai trăm ba mươi bốn triệu hai trăm tám mươi chín nghìn không trăm năm mươi chín đồng). Trả ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án đến thời điểm xét xử, phía bị đơn không trinh bày ý kiến.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc Trường Tiểu học, Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Quốc tế Q trả cho ông Cù Xuân B số tiền nợ gốc và lãi là: 7.500.000.000 đồng (Bảy tỷ, năm trăm triệu đồng), trong đó nợ gốc là 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng), nợ lãi là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Trả làm 01 lần ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Kể từ ngày ông Cù Xuân B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Trường Tiểu học, Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Quốc tế Q phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Trường Tiểu học, Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Quốc tế Q phải chịu 115.500.000đ (Một trăm mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
  4. Tiếp tục duy trì Quyết định Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 16/2023/QĐ-BPKCTT ngày 11/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, bà Phan Ngọc Bảo T là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Cù Xuân B có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Viết H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học Phổ thông Quốc tế Q có người đại diện theo ủy quyền là bà Phan Ngọc Bảo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học Phổ thông Quốc tế Q có người đại diện theo ủy quyền là bà Phan Ngọc Bảo T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập Công ty Cổ phần G tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự do T2 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q là Chi nhánh của Công ty Cổ phần G, mặc dù có tư cách pháp nhân theo Quyết định thành lập số 432/QĐ-UBND ngày 30/01/2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, nhưng không được cấp mã số thuế và không có tài khoản riêng, mọi hoạt động thu chi đều thông qua Công ty Cổ phần G. Mặt khác, việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp với nội dung khách quan của vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

  • Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.
  • Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 22 và 29 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 26/2024/DSST. Ngày 29 tháng 01 năm 2024 bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận. Đơn kháng cáo của Trường tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q trong hạn luật định, nên được chấp nhận về thủ tục kháng cáo.

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Bùi Viết H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

[3] Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xác định đúng quan hệ tranh chấp, xét xử đúng thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục tống đạt cho bị đơn vào ngày 30/12/2023 (để nhận Quyết định nhập vụ án, Quyết định tách vụ án, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thông báo thụ lý), ngày 06/12/2023 (thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải), ngày 14/12/2023 (thông báo hoãn phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải), ngày 19/12/2023 (nhận quyết định xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa), ngày 11/01/2024 (nhận quyết định hoãn phiên tòa). Việc xét xử vắng mặt bị đơn của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè là đúng pháp luật.

[4] Về tư cách tham gia tố tụng:

[4.1] Căn cứ văn bản số 2764/SGDĐT-GDNCL ngày 05/6/2023 xác định Trường tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Mỹ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H cho phép thành lập tại Quyết định số 432/QĐ-UBND ngày 30/01/2019 và được Giám đốc Sở Gáo dục và Đ tại cho phép hoạt động giáo dục tại Quyết định số 1473/QĐ-GDĐT-TC ngày 13/6/2019. Theo Quyết định số 432/QĐ-UBND ngày 30/01/2019, T2 có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của nhà nước.

[4.2] Khoản 2 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 13/2011/TT-BGDĐT của Bộ G1 có quy định: “Trường P có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại”.

Vì vậy, Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q hoàn toàn có đủ tư cách tham gia tố tụng độc lập, nếu không có tình tiết pháp lý khác.

[4.3.] Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của T2 tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh (Mã số chi nhánh 0315331710-001) do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H (cấp đăng ký lần đầu ngày 31/10/2018, đăng ký thay đổi lần 4 ngày 10/02/2023) cho thấy Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q là chi nhánh của Công ty Cổ phần G. Tại Điều 4 quy định “hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp” và tên doanh nghiệp là Công ty Cổ phần G. Do đó, phải đưa Công ty Cổ phần G vào tham gia tố tụng, nên cần hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Đây là tình tiết mới. Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong việc hủy án này.

Khi giải quyết lại, về tố tụng, cấp sơ thẩm cần chú ý: Nếu như qua thu thập chứng cứ cho thấy Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q hạch toán phụ thuộc vào Công ty Cổ phần G mà không hạch toán độc lập (như lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tại phiên tòa hôm nay), thì chỉ đưa Công ty Cổ phần G vào tham gia tố tụng mà không đưa T2 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế M vào tham gia tố tụng vì Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q không có tư cách để tham gia tố tụng độc lập.

Từ các phân tích trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn như đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Về nội dung: Do hủy án để xác định lại tư cách tham gia tố tụng, nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung vụ án.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q.
  2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  4. Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) cho T2 Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc tế Q (đã nộp theo Biên lai thu số 0017525 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - TAND Nhà Bè;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thảo

 

CÁC THẨM PHÁN

TÒA

Đặng Huyền Phương

Vũ Thị Thu H1

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Phạm Thị T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 481/2024/DSPT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 481/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger