|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 481/2024/DS-ST Ngày: 24-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 662/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 322/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Địa chỉ trụ sở: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Hoàn V, chức vụ: Giám đốc chi nhánh C.
(Theo Giấy ủy quyền số 3270/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S)
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn N, chức vụ: Chuyên viên quản lý tín dụng.
(Theo Giấy ủy quyền số 306/2023/GUQ-CNCC ngày 12/7/2023)
Địa chỉ liên lạc: Số C, đường Q, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Đường tỉnh lộ 8, Tổ A, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 18 tháng 7 năm 2023, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - có người đại diện theo ủy quyền lại là ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ngày 19/12/2018, ông Trần Ngọc T có đề nghị Ngân hàng ký Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 526830-2383 với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong hợp đồng các bên cũng có thỏa thuận lãi suất 33,2%/năm và hình thức thanh toán theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (có hiệu lực từ ngày 04/01/2017).
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông T đã đã kích hoạt thẻ thực hiện giao dịch ông T đã rút tiền từ thẻ nhiều lần. Tổng cộng số tiền ông T đã rút ra là 39.705.999₫ (Ba mươi chín triệu bảy trăm lẻ năm nghìn chín trăm chín mươi chín đồng) từ thẻ tín dụng số 526830-2383. Sau đó, ông T đã chuyển trả lại vào thẻ tín dụng số 526830-2383 tổng cộng là 44.820.000đ (Bốn mươi bốn triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
Ngày 22/5/2021, ông T có giao dịch số tiền 297.500đ (Hai trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm đồng), thanh toán được 800.000đ (T1 trăm nghìn đồng), còn lại nợ gốc 20.400.573₫ (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng). Kể từ ngày 22/6/2021, ông T không còn thực hiện giao dịch đối với thẻ tín dụng số 526830- 2383 nhưng vẫn chuyển trả lãi. Tuy nhiên đến ngày 22/3/2023, ông T không trả gốc và trả lãi cho Ngân hàng nữa. Khi sử dụng thẻ, trường hợp khách hàng không chuyển trả tiền lãi đúng kỳ thì theo quy định số tiền lãi này sẽ được cộng dồn vào tiền gốc và tiền lãi tiếp theo sẽ phát sinh trên số tiền cộng dồn. Trong trường hợp khách hàng bị quá hạn trả tiền gốc thì tiền lãi phát sinh không bị cộng dồn vào tiền gốc nữa. Còn tiền lãi quá hạn sẽ được tính 150% lãi suất trong hạn x dư nợ gốc.
Tính từ ngày 22/3/2023 đến ngày 24/7/2024, ông T còn nợ gốc là 22.720.721₫ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng), lãi quá hạn 15.365.847₫ (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng), tổng cộng 38.086.568₫ (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng). Ngân hàng yêu cầu ông T có trách nhiệm trả số tiền nêu trên và chịu lãi suất phát sinh nếu chưa thanh toán hết nợ.
Do khi ông T vay không có vợ của ông T đứng vay chung nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông T có trách nhiệm trả tiền mà không yêu cầu vợ ông T có nghĩa vụ liên đới trả tiền.
- Bị đơn ông Trần Ngọc T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, giấy triệu tập đương sự mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát huyện C phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Trần Ngọc T có đề nghị Ngân hàng ký Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 526830-2383 với hạn mức sử dụng là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong hợp đồng các bên cũng có thỏa thuận lãi suất và hình thức thanh toán theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã rút tiền trong thẻ và không thanh toán lại tiền theo thỏa thuận. Tính từ ngày 22/3/2023 đến ngày 24/7/2024, ông T còn nợ gốc là 22.720.721đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng), lãi quá hạn 15.365.847₫ (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng), tổng cộng 38.086.568đ (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng).
Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 18/7/2023, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Trần Ngọc T trả số tiền gốc và lãi suất đã vay theo “Hợp đồng tín dụng qua thẻ”, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Trần Ngọc T có nơi cư trú tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Ngọc T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Trần Ngọc T phải thanh toán tiền còn nợ tính từ ngày 22/3/2023 đến ngày 24/7/2024 nợ gốc là 22.720.721đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng), lãi quá hạn 15.365.847₫ (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng), tổng cộng 38.086.568₫ (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông T có phải chịu lãi suất phát sinh nếu chưa thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, cách thức thanh toán trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 19/12/2018, ông Trần Ngọc T có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ số 526830-2383 với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Các đương sự cũng thỏa thuận mức lãi suất phát sinh. Khi ký hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay.
Ngày 14/01/2019, ông T đã ký nhận tại Phiếu yêu cầu về thẻ, số thẻ 526830-2383, tên sản phẩm MC contactles Cre Gold, ông T là chủ tài khoản thẻ số 526830-2383. Như vậy, ông T đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thông qua thẻ tín dụng, trong quá trình sử dụng thẻ, ông T đã đã kích hoạt thẻ thực hiện giao dịch ông T đã rút tiền từ thẻ nhiều lần tổng cộng số tiền ông T đã rút ra là 39.705.999₫ (Ba mươi chín triệu bảy trăm lẻ năm nghìn chín trăm chín mươi chín đồng) từ thẻ tín dụng số 526830-2383. Sau đó, ông T đã chuyển trả lại vào thẻ tín dụng số 526830-2383 tổng cộng là 44.820.000₫ (Bốn mươi bốn triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Ngày 22/5/2021, ông T có giao dịch số tiền 297.500₫ (Hai trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm đồng), thanh toán được 800.000đ (T1 trăm nghìn đồng), còn lại nợ gốc 20.400.573đ (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng). Kể từ ngày 22/6/2021, ông T không còn thực hiện giao dịch đối với thẻ tín dụng số 526830-2383 những vẫn chuyển trả lãi. Tuy nhiên đến ngày 22/3/2023, ông T không trả gốc và trả lãi cho Ngân hàng nữa. Như vậy, ông T đã vi phạm trách nhiệm thanh tóan của chủ thẻ tại Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 của bên vay theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (có hiệu lực từ ngày 04/01/2017) mà ông T đã ký kết cam kết với với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 19/12/2018. Việc ông T chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 3, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, 8, 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên bị đơn ông Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm 1.904.328đ (Một triệu chín trăm lẻ bốn nghìn ba trăm hai mươi tám đồng) theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông Trần Ngọc T có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền gốc là 22.720.721đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn bảy trăm hai mươi mốt đồng), lãi quá hạn 15.365.847₫ (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng), tổng cộng 38.086.568₫ (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi tám đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng ngày 19/12/2018. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.904.328đ (Một triệu chín trăm lẻ bốn nghìn ba trăm hai mươi tám đồng) buộc ông T phải chịu.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 644.219₫ (Sáu trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm mười chín đồng) theo biên lai số 0017279 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 357, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Túy Phượng |
Bản án số 481/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 481/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
