|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 481/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 08 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Anh Đoan
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 361/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ A ấp B, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có yêu cầu vắng mặt);
- - Bị đơn: Ông Lê Vũ L, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ E ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có yêu cầu vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim T với ông Lê Vũ L tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P. Vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau nên giữa bà T với ông L không sống chung từ giữa năm 2011 cho đến nay, các bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị Khánh B, sinh ngày 20/5/2011, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, ông L không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Lê Vũ L trình bày: Ông L với bà T do tự tìm hiểu và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên và đi đến hôn nhân năm 2010, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định, trong quá trình sống chung, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải vã nên vợ chồng đã không còn sống chung từ giữa năm 2011 cho đến nay, theo yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, ông L thống nhất ly hôn; về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Khánh B, sinh ngày 20/5/2011. Ông L thống nhất giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không có
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
- Đối với người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 55; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Công nhận cho bà Nguyễn Thị Kim T với ông Lê Vũ L thuận tình ly hôn; về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Khánh B, sinh ngày 20/5/2011. Giao cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông L không phải cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Vũ L; về con chung yêu cầu được nuôi nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lê Vũ L với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Vũ L đều có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông L
[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim T với ông Lê Vũ L là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên giữa bà T với ông L không còn sống chung từ giữa năm 2011 cho đến nay.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông L mâu thuẫn là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt và việc thuận tình ly hôn giữa bà T với ông L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T với ông Lê Vũ L theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Khánh B, sinh ngày 20/5/2011. Ông L thống nhất giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51; 55; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T với ông Lê Vũ L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị Khánh B, sinh ngày 20/5/2011. Ông L thống nhất giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng.
Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006990 ngày 04/06/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |
Bản án số 481/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 481/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
