|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 481/2024/DS-ST
Ngày: 16 - 7 -2024
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duyên
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Én
Bà Võ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2024/TLST- DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST- DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 208/2024/QĐST- DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; địa chỉ trụ sở: Tầng 01 (trệt) và Tầng 02, tòa nhà Sailing Tower - Số 111A đường P, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 497/1A đường Phạm Văn C, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Các ông (bà) Nguyễn Tuấn M, Đinh Thị Mai A, Phan Trần Thế V; cùng địa chỉ liên lạc: Tầng 06, tòa nhà P - Số 26 đường U, Phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền số 081863.24 ngày 23/4/2024). (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Mai A trình bày:
Ngày 02/8/2021 giữa ông Đỗ Văn Q và Ngân hàng TMCP Q (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) có ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Theo đó ngày 06/8/2021 Ngân hàng đồng ý cấp cho ông Q thẻ tín dụng số 5130949400106985, loại thẻ VIB Premier Boundless, hạn mức tín dụng 60.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận đã ký, qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông Q vẫn không có thiện chí trả nợ, do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16/7/2024 ông Q còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 118.799.993 đồng (một trăm mười tám triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng); trong đó bao gồm nợ gốc 59.982.000 đồng (năm mươi chín triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn đồng), nợ lãi quá hạn 22.212.684 đồng (hai mươi hai triệu, hai trăm mười hai nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng), lãi chậm trả 36.605.309 đồng (ba mươi sáu triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn, ba trăm lẻ chín đồng).
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa giải quyết buộc bị đơn là ông Đỗ Văn Q thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên cho Ngân hàng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 17/7/2024 theo mức lãi suất do các bên thoả thuận tại Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo; đồng thời vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Toà án:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn ông Đỗ Văn Q cư trú tại quận G. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng:
Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai xác nhận của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để khẳng định tính đến ngày 16/7/2024 bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 59.982.000 đồng (năm mươi chín triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn đồng), mặc dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán nên yêu cầu đòi nợ gốc của nguyên đơn là có cơ sở.
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn vi phạm nội dung thỏa thuận tại Bản đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế đã ký nên ngày 15/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bị đơn sang nợ quá hạn, tính lãi suất nợ quá hạn và lãi chậm trả theo quy định tại bản đăng ký nêu trên; đồng thời yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/7/2024 là có cơ sở. Tính đến ngày 16/7/2024 bị đơn còn nợ lãi quá hạn 22.212.684 đồng (hai mươi hai triệu, hai trăm mười hai nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng), lãi chậm trả 36.605.309 đồng (ba mươi sáu triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn, ba trăm lẻ chín đồng) đồng theo Bảng chi tiết tính lãi thẻ tín dụng của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về phía bị đơn mặc dù đã được Tòa tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vụ án.
Xét thấy, việc các bên ký Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế là hoàn toàn tự nguyện nhưng do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng như thoả thuận đã ký giữa các bên. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 357, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên ngay khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án là 5.940.000 đồng (năm triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ các điều 357, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
- - Căn cứ Luật án phí, lệ phí năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bị đơn ông Đỗ Văn Q có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền 118.799.993 đồng (một trăm mười tám triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng) ngay khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; trong đó bao gồm nợ gốc 59.982.000 đồng (năm mươi chín triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn đồng), nợ lãi quá hạn 22.212.684 đồng (hai mươi hai triệu, hai trăm mười hai nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng), lãi chậm trả 36.605.309 đồng (ba mươi sáu triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn, ba trăm lẻ chín đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Văn Q phải chịu án phí là 5.940.000 đồng (năm triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 2.970.000 đồng (hai triệu, chín trăm bảy mươi nghìn đồng) cho Ngân hàng TMCP Q theo biên lai thu số 0012785 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự quận G.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
3.1 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ký ngày 02/8/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
3.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Thúy Duyên |
Bản án số 481/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 481/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông Đỗ Văn Q thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký
