|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 4805/2024/DS-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Phụng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 1342/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6782/2024/QĐXXST–DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7958/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chu Văn B, sinh năm: 1982.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm: 1985 và bà Nguyễn Thị Nam C, sinh năm: 1988.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: H đường số E, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô N – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3921, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/9/2023 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương). (vắng mặt)
Thường trú: 76/6 đường số 5, khu phố 4, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở: 18 đường số 6, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: 4 khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Chu Văn B có người đại diện theo ủy quyền là ông Ngô N trình bày:
Ngày 16/4/2022, ông Chu Văn B cho vợ chồng ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 06 tháng, lãi suất 4%/tháng. Để làm tin và bảo đảm cho khoản vay, thay vì ký hợp đồng vay tài sản thì hai bên thống nhất ký Hợp đồng đặt cọc đề ngày 16/4/2022 về việc vợ chồng ông H, bà C nhận số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng để chuyển nhượng nhà đất tại địa chỉ số G đường số E, khu phố D, phường L, thành phố T cho ông B; trong hợp đồng thỏa thuận thời hạn đặt cọc là 06 tháng, trong thời hạn này nếu vợ chồng ông H, bà C thanh toán lại 500.000.000 đồng thì hủy hợp đồng, nếu không thanh toán lại số tiền đặt cọc thì chuyển nhượng nhà đất trên cho ông B.
Hết thời hạn 06 tháng nhưng vợ chồng ông H, bà C vẫn không thanh toán số tiền 500.000.000 đồng. Sau đó ông H có ký giấy xác nhận nợ và kế hoạch thanh toán: ngày 24/6/2023 thanh toán 150.000.000 đồng, ngày 24/7/2023 thanh toán 150.000.000 đồng và ngày 24/8/2023 thanh toán 200.000.000 đồng. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa thanh toán tiền gốc và lãi.
Tại đơn khởi kiện, ông B yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022. Sau đó, ông B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022 vô hiệu do thực chất là hợp đồng vay tài sản; yêu cầu vợ chồng ông H, bà C thanh toán số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày 17/10/2022 (là ngày hết thời hạn cho vay) đến ngày 27/9/2024, như sau:
500.000.000 đồng x 10%/năm/12 tháng x 23 tháng 10 ngày = 96.833.333 đồng.
Như vậy, tổng số tiền là 596.833.333 đồng.
Số tiền mà ông B cho vợ chồng ông H, bà C vay là tài sản riêng, không liên quan đến vợ ông B là bà Nguyễn Thị Hoài T.
+ Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Trung H trình bày:
Ngày 16/4/2022, vợ chồng ông vay số tiền 500.000.000 đồng của ông Chu Văn B. Thay vì lập hợp đồng vay tiền thì hai bên thống nhất vợ chồng ông ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng nhà đất số G đường số E, khu phố D, phường L, thành phố T cho ông B. Thực chất đây là giao dịch vay số tiền 500.000.000 đồng, có thỏa thuận lãi suất 4%/tháng.
Nay theo yêu cầu khởi kiện của ông B, ông đồng ý hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022 và đồng ý trả số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và nợ lãi.
+ Tại bản tự khai, người làm chứng ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Ngày 16/4/2022, ông Chu Văn B cho vợ chồng ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C vay số tiền 500.000.000 đồng. Thay vì lập hợp đồng vay tài sản thì hai bên lập Hợp đồng đặt cọc về việc ông B đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng cho vợ chồng ông H, bà C để nhận chuyển nhượng nhà đất số G đường số E, khu phố D, phường L, thành phố T thuộc quyền sử dụng, sở hữu của vợ chồng ông H, bà C. Hai bên đề nghị ông đứng ra làm chứng, ông xác nhận Hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022 thực chất là ông B cho vợ chồng ông H, bà C vay số tiền 500.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử cần rút kinh nghiệm.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chu Văn B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
1. Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Chu Văn B khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và triệu tập bị đơn ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Nam C đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án tuy nhiên chỉ có ông H đến cung cấp lời khai, tham gia phiên họp, hòa giải. Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng ông H, bà C vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông H và bà C.
Nguyên đơn ông Chu Văn B ủy quyền ông Ngô N đại diện có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
2. Về nội dung:
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các đương sự là phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định:
Ngày 16/4/2022, ông Chu Văn B cho vợ chồng ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C vay số tiền 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, hai bên thống nhất không ký giấy vay tiền mà tiến hành lập hợp đồng đặt cọc về việc ông B đặt cọc 500.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng nhà đất số G đường số E, khu phố D, phường L, thành phố T từ vợ chồng ông H, bà C. Ông B, ông H và người làm chứng ông Nguyễn Văn H1 đều thừa nhận mục đích ký kết hợp đồng đặt cọc là nhằm bảo đảm cho khoản tiền vay, thực tế hai bên chỉ có quan hệ giao dịch vay tài sản, không phát sinh giao dịch đặt cọc mua bán nhà. Đồng thời, trong hợp đồng lại thỏa thuận về việc ông H, bà Chi T1 lại 500.000.000 đồng trong vòng 06 tháng thì hủy hợp đồng đặt cọc. Như vậy xét thấy, hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022 là giả tạo, không đúng với thỏa thuận giữa hai bên nên vô hiệu.
Về giao dịch vay tài sản: ông B và ông H đều xác nhận số tiền vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 16/4/2022, có thỏa thuận lãi suất 4%/tháng. Tuy nhiên, vợ chồng ông H và bà C vẫn chưa thanh toán nợ gốc và tiền lãi. Nay, ông B yêu cầu trả số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về tiền lãi: Hai bên có thỏa thuận về thời hạn trả tiền là 06 tháng và trả lãi với mức lãi 4%/tháng, do đó xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có thỏa thuận về lãi được quy định tại Điều 470; khoản 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự. Mức lãi 4%/tháng là vượt quá quy định của pháp luật, tuy nhiên ông H, bà C chưa thực hiện trả lãi trong quá trình vay nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nay, ông B yêu cầu trả lãi từ ngày quá hạn vay là ngày 17/10/2022 đến ngày xét xử, với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Tiền lãi từ ngày 17/10/2022 đến ngày 27/9/2024 như sau: 500.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 23 tháng 10 ngày = 96.833.333 đồng.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B; tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 16/4/2022 vô hiệu; buộc ông H và bà Chi T1 cho ông B tổng cộng số tiền vay là 596.833.333 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu trả tiền của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông H và bà C phải chịu án phí trên số tiền 596.833.333 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 124; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470; Điều 357 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Chu Văn B về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C.
Tuyên bố hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất ký ngày 16/4/2022 giữa ông Chu Văn B và ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Nam C vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Nam C có trách nhiệm trả cho ông Chu Văn B số tiền vay ngày 16/4/2022 là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, tiền lãi là 96.833.333 (Chín mươi sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng; tổng số tiền là 596.833.333 (Năm trăm chín mươi sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Nam C phải chịu là 27.873.333 (Hai mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
Hoàn trả cho ông Chu Văn B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.800.000 ( Mười sáu triệu tám trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0004982 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Ông Chu Văn B, ông Nguyễn Trung H, bà Nguyễn Thị Nam C vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - VKSND TP. Thủ Đức;
- - THA DS TP. Thủ Đức;
- - TATP;
- - Các đương sự;
- - Lưu.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 4805/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4805/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
