|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Số: 4803/2024/KDTM-ST Ngày: 27/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bùi Thị Phụng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 267/2023/TLST-KDTM ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6780/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 7721/2024/QĐST–KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S.
Trụ sở: Lô F, đường E, Khu công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Nam T, sinh năm: 1984 (Văn bản ủy quyền số 562/2024/SMC/GUQ ngày 06/5/2024). (có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH X.
Trụ sở: 66 Nguyễn Quý Đ, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Hồng K, sinh năm: 1980 – Là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên).
Địa chỉ thường trú: 3 N, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi ở: Căn hộ số 03.03, tầng 04 (lầu 03), Khu C, lô C46, khu C, Khu đô thị A, số E đường số D, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty Cổ phần S có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty Cổ phần S (viết tắt là Công ty S) và Công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X) đã ký với nhau các hợp đồng kinh tế về việc mua bán bê tông thương phẩm như sau:
- Theo Hợp đồng số 1603/2020/SMC/PKD/HĐ ngày 16/3/2020 và các phụ lục hợp đồng: Công ty S cung cấp bê tông trộn sẵn đến công trình: Tòa nhà Văn phòng Công ty N – A N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thanh toán 100% giá trị trong vòng 45 ngày làm việc kể từ ngày tổng hợp khối lượng.
Thực hiện hợp đồng, từ ngày 13/5/2021 đến ngày 24/5/2022, Công ty S đã cung cấp bê tông trộn sẵn cho Công ty X tại công trình Quận B với tổng giá trị là 1.223.420.081 đồng. Hai bên đã tổng hợp khối lượng. Công ty S đã xuất đầy đủ hoá đơn và được Công ty X thanh toán tổng số tiền là 1.172.621.999 đồng. Công ty X còn phải thanh toán số tiền là 50.798.082 đồng.
- Theo Hợp đồng số 1701/2022/VPQ5/HĐ/NVC-SMC ngày 17/01/2022 và các phụ lục hợp đồng: Công ty S cung cấp bê tông trộn sẵn đến công trình: Phần móng + Nền hầm & Phần thô + Hoàn thiện mặt ngoài 9 căn (Q5.33- Q5.41) – Khu Đô thị V, Quốc lộ A, thành phố T. Giá trị hợp đồng tính theo khối lượng bê tông cung cấp thực tế, dự kiến là 3.500 m3 bê tông tương đương 4.500.000.000 đồng. Thanh toán 100% giá trị trong vòng 45 ngày làm việc kể từ ngày tổng hợp khối lượng.
Thực hiện hợp đồng, từ ngày 07/4/2022 đến ngày 06/5/2022, Công ty S đã cung cấp bê tông trộn sẵn cho Công ty X tại công trình Khu đô thị V với tổng giá trị là 795.440.179 đồng. Hai bên đã tổng hợp khối lượng, Công ty S đã xuất đầy đủ hoá đơn và được Công ty X thanh toán số tiền là 750.000.000 đồng. Công ty X còn phải thanh toán số tiền là 45.440.179 đồng.
- Theo Hợp đồng số 1901/2022/VPISH5/HĐ/NVC-SMC ngày 19/01/2022 và các phụ lục hợp đồng: Công ty S cung cấp bê tông trộn sẵn đến công trình: Biệt thự liền kề - Lô H và I5&B2 – Khu Đô thị V, Quốc lộ A, thành phố T. Giá trị hợp đồng tính theo khối lượng bê tông cung cấp thực tế, dự kiến là 17.000 m³ bê tông tương đương 23.000.000.000 đồng. Thanh toán 100% giá trị trong vòng 45 ngày làm việc kể từ ngày tổng hợp khối lượng.
Thực hiện hợp đồng, từ ngày 17/3/2022 đến ngày 09/5/2022, Công ty S đã cung cấp bê tông trộn sẵn cho Công ty X tại công trình Khu đô thị V với tổng giá trị là 2.695.643.114 đồng. Hai bên đã tổng hợp khối lượng, Công ty S đã xuất đầy đủ hoá đơn nhưng chưa được Công ty X thanh toán. Công ty X phải thanh toán cho Công ty S số tiền là 2.695.643.114 đồng.
Như vậy, tổng giá trị bê tông đã cung cấp là 4.714.503.374 đồng, Công ty X đã thanh toán là 1.922.621.999 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là 2.791.881.375 đồng.
Ngày 17/10/2022, Công ty X đã có công văn xác nhận nợ và cam kết thanh toán bắt đầu từ ngày 21/10/2022 đến ngày 06/01/2023. Đến ngày 08/02/2023, giữa 02 bên ký biên bản đối chiếu công nợ, trong đó xác nhận số tiền nợ đến ngày 31/12/2022 là 2.791.881.375 đồng.
Nay, Công ty S yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền còn nợ của 03 hợp đồng trên là 2.791.881.375 đồng; và tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 05/8/2022 đến ngày 27/9/2024 với lãi suất 10%/năm (0,0274%/ngày): 2.791.881.375 đồng x 0,0274%/ngày x 784 ngày = 599.740.400 đồng.
Như vậy, tổng số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 3.391.621.775 đồng.
2. Bị đơn Công ty TNHH X đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử, cần rút kinh nghiệm.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn Công ty TNHH X có địa chỉ tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn Công ty TNHH X đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng Công ty X vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn Công ty X.
[2]. Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào lời khai của đương sự, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:
Công ty Cổ phần S và Công ty TNHH X ký các Hợp đồng số 1603 ngày 16/3/2020, Hợp đồng số 1701 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng số 1901 ngày 19/01/2022 về việc Công ty S cung cấp bê tông trộn sẵn cho Công ty X thực hiện các công trình thuộc Tòa nhà Văn phòng Công ty N – A N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Đô thị V, Quốc lộ A, thành phố T.
Đối với Hợp đồng số 1603: Công ty X đã thanh toán được 1.172.621.999 đồng, còn nợ lại 50.798.082 đồng; Hợp đồng số 1701: đã thanh toán được 750.000.000 đồng, còn nợ lại 45.440.179 đồng; Hợp đồng số 1901: Công ty X chưa thanh toán số tiền 2.695.643.114 đồng.
Công ty S đã thực hiện cung cấp hàng hóa như thỏa thuận trong hợp đồng, hai bên đã tiến hành xác nhận khối lượng, giá trị thanh toán. Ngày 17/10/2022, Công ty X đã ban hành công văn xác nhận nợ và kế hoạch trả nợ từ ngày 21/10/2022 đến ngày 06/01/2023; ngày 08/02/2023, hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ của 03 hợp đồng chưa thanh toán đến ngày 31/12/2022 là 2.791.881.375 đồng. Trong các hợp đồng thỏa thuận thời hạn thanh toán là 45 ngày làm việc kể từ ngày tổng hợp khối lượng, tuy nhiên đến nay, Công ty X vẫn chưa thanh toán số tiền này cho Công ty S là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Lời khai của Công ty S là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định Công ty X còn nợ Công ty S số tiền cung cấp hàng hóa của các Hợp đồng số 1603 ngày 16/3/2020, Hợp đồng số 1701 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng số 1901 ngày 19/01/2022 là 2.791.881.375 đồng.
Về tiền lãi chậm thanh toán: Trong các hợp đồng, các bên thỏa thuận về thời hạn thanh toán là 45 ngày làm việc kể từ ngày tổng hợp khối lượng. Hợp đồng số 1603 ngày 16/3/2020 đã tiến hành xác nhận tổng hợp khối lượng vào các ngày 31/3/2022, 31/5/2022; Hợp đồng số 1701 ngày 17/01/2022 đã tiến hành xác nhận tổng hợp khối lượng vào các ngày 30/4/2022, 06/5/2022; Hợp đồng số 1901 ngày 19/01/2022 đã tiến hành xác nhận tổng hợp khối lượng vào các ngày 17/3/2022, 30/4/2022, 10/5/2022. Như vậy, Công ty X đã vi phạm thời hạn thanh toán, Công ty S yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo cung cấp thông tin về mức lãi suất nợ quá hạn trung bình áp dụng tại thời điểm giải quyết vụ án của Ngân hàng TMCP N1 là 9.3%/năm, Ngân hàng TMCP C là 12,5%/năm, Ngân hàng N2 là 9,57%/năm; như vậy mức lãi suât nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 10,46%/năm, tương đương 0,0287%/ngày. Công ty S yêu cầu Công ty X thanh toán tiền lãi chậm thanh toán của Hợp đồng số 1603, Hợp đồng số 1701 và Hợp đồng số 1901, từ ngày 05/8/2022 đến ngày 27/9/2024 là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng, mức lãi suất là 0,0274%/ngày, thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tiền lãi chậm thanh toán được tính như sau: 2.791.881.375 đồng X 0,0274%/ngày x 784 ngày = 599.740.400 đồng.
Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Công ty X trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty S. Do vậy, Công ty S yêu cầu Công ty X thanh toán khoản tiền còn nợ của các Hợp đồng số 1603 ngày 16/3/2020, Hợp đồng số 1701 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng số 1901 ngày 19/01/2022, bao gồm tiền cung cấp hàng hóa là 2.791.881.375 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 27/9/2024 là 599.740.400 đồng, là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 306 Luật thương mại nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S, buộc Công ty X thanh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 3.391.621.775 đồng.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn Công ty X phải chịu án phí trên số tiền 3.391.621.775 đồng phải trả cho Công ty S. Hoàn trả lại cho Công ty S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 50; Điều 55; Điều 306 Luật thương mại;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.
Buộc Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần S số tiền nợ của các Hợp đồng số 1603/2020/SMC/PKD/HĐ ngày 16/3/2020 và các phụ lục hợp đồng, Hợp đồng số 1701/2022/VPQ5/HĐ/NVC-SMC ngày 17/01/2022 và các phụ lục hợp đồng, Hợp đồng số 1901/2022/VPISH5/HĐ/NVC-SMC ngày 19/01/2022 và các phụ lục hợp đồng, như sau: tiền cung cấp hàng hóa là 2.791.881.375 (Hai tỷ bảy trăm chín mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 599.740.400 (Năm trăm chín mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi nghìn bốn trăm) đồng; Tổng cộng số tiền là 3.391.621.775 (Ba tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH X phải chịu án phí là 99.832.436 (Chín mươi chín triệu tám trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm ba mươi sáu) đồng.
Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 47.295.873 (Bốn mươi bảy triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm bảy mươi ba) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005043 ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty TNHH X vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 4803/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 4803/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
