Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 4802/2024/KDTM-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Ông Dương Hoàng Chinh

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6776/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 7720/2024/QĐST–KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C (tên cũ là: Công ty Cổ phần Đ).

    Địa chỉ: D N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Quế P, sinh năm: 1980 – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 141/GUQ-CTY ngày 29/02/2024). (vắng mặt)

  2. Bị đơn: Công ty TNHH X.

    Địa chỉ: D Hồ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm: 1982 – Là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Giám đốc).

    Địa chỉ: B Chung cư E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Công ty Cổ phần CIC39 có người đại diện theo ủy quyền là ông Hồ Quế P trình bày:

    Ngày 27/3/2020, Công ty Cổ phần Đ (nay là Công ty Cổ phần C, viết tắt là Công ty C) và Công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X) ký Hợp đồng mua bán số 25/03/HĐMB và Phụ lục hợp đồng số 31/05/PLHĐ ngày 27/5/2020, về việc mua bán cống bê tông cung cấp cho Công trình đầu tư xây dựng HTTN Đường 355, địa điểm tại xã T, huyện C, Thành phố H

    Theo quy định của hợp đồng, Công ty CIC39 bán cho Công ty X ống cống thoát nước, loại cống bê tông cốt thép sản xuất theo công nghệ quay ly tâm mác 300, gối cống mác 200 và J cống với tổng giá trị là 1.327.635.760 đồng (bao gồm thuế VAT). Khối lượng và quy cách theo hợp đồng là tạm tính, khối lượng và quy cách thanh quyết toán sẽ tính theo khối lượng và quy cách thực tế giao nhận. Đơn giá hợp đồng có hiệu lực 120 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Trong thời gian này, nếu giá vật liệu (gồm xi măng, thép, dầu DO, điện năng...) tăng hoặc giảm thì hai bên không phải thực hiện điều chỉnh đơn giá. Nếu quá thời hạn 120 ngày đơn giá trên có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm theo từng thời điểm của thị trường và được thông báo bằng văn bản nếu có thay đổi.

    Phương thức thanh toán: Công ty X sẽ thanh toán 100% giá trị cần giao nhận từng đợt cho Công ty CIC39 trước khi nhận hàng. Vào ngày 25 hàng tháng hai bên sẽ đối chiếu khối lượng và Công ty C xuất hóa đơn cho Công ty X. Ngay khi Công ty C giao hết khối lượng trong hợp đồng thì hai bên sẽ tiến hành đối chiếu công nợ và thanh lý hợp đồng.

    Hợp đồng thực hiện từ ngày 25/4/2020, Công ty C bắt đầu giao hàng và tiến hành nghiệm thu khối lượng theo từng đợt như sau: Đợt 1 ngày 29/4/2020, tổng số tiền thanh toán: 95.136.580 đồng; đợt 2 ngày 30/5/2020, tổng số tiền thanh toán: 253.682.000 đồng; đợt 3 ngày 26/6/020, tổng số tiền thanh toán: 143.495.000 đồng; đợt 4 ngày 24/8/2020, tổng số tiền thanh toán: 262.737.200 đồng; đợt 5 ngày 27/10/2020, tổng số tiền thanh toán: 172.194.000 đồng; đợt 6 ngày 27/12/2020, tổng số tiền thanh toán: 118.588.250 đồng; đợt 7 ngày 24/02/2021, tổng số tiền thanh toán: 82.490.320 đồng.

    Ngày 10/01/2023, hai bên tiến hành đối chiếu công nợ và xác nhận số tiền Công ty X còn nợ đến ngày 31/12/2022 là 28.211.960 đồng. Công ty C đã nhiều lần yêu cầu thanh toán số tiền còn lại nhưng Công ty X vẫn chưa thực hiện thanh toán. Do đó nay, Công ty CIC39 yêu cầu Công ty X phải thanh toán số tiền còn nợ là 28.211.960 đồng.

    Về tiền lãi chậm thanh toán: Theo khoản 6.4 Điều 6 của hợp đồng quy định tiền lãi chậm thanh toán là 0,05%/tổng giá trị phần chậm thanh toán/ngày. Do đó, Công ty CIC39 yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày đối chiếu công nợ là ngày 11/01/2023 đến ngày 27/9/2024: 28.211.960 đồng x 625 ngày x 0,05% = 8.816.238 đồng.

    Như vậy, tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 37.028.198 đồng.

  2. Bị đơn Công ty TNHH X đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  3. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

    • Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử, cần rút kinh nghiệm.
    • Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn Công ty Cổ phần CIC39 khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn Công ty TNHH X có địa chỉ tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn Công ty TNHH X đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng Công ty X vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn Công ty X.

Nguyên đơn Công ty Cổ phần C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty CIC39.

[2]. Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời khai của đương sự, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:

Công ty Cổ phần C (trước kia là Công ty Cổ phần Đ) và Công ty TNHH X ký Hợp đồng mua bán số 25/03/HĐMB ngày 27/3/2020 và Phụ lục hợp đồng số 31/05/PLHĐ ngày 27/5/2020 về việc Công ty CIC39 bán cống thoát nước cho Công ty X thực hiện công trình đầu tư xây dựng HTTN Đường 355, tại xã T, huyện C, Thành phố H Từ ngày 25/4/2020 đến ngày 12/01/2021, Công ty C đã giao hàng với tổng giá trị là 1.128.323.350 đồng. Công ty X đã thanh toán và còn nợ lại 28.211.960 đồng. Ngày 10/01/2023, hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ, xác nhận số nợ là 28.211.960 đồng. Trong hợp đồng thỏa thuận thời hạn thanh toán là thanh toán 100% giá trị cần giao nhận từng đợt trước khi nhận hàng, tuy nhiên đến nay, Công ty X vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại cho Công ty C là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Lời khai của Công ty CIC39 là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định Công ty X còn nợ Công ty CIC39 số tiền mua hàng là 28.211.960 đồng.

Về tiền lãi chậm thanh toán: Trong hợp đồng, các bên thỏa thuận về thời hạn thanh toán là Công ty X sẽ thanh toán 100% giá trị cần giao nhận từng đợt cho Công ty CIC39 trước khi nhận hàng. Công ty CIC39 đã tiến hành giao hàng cho Công ty X từ ngày 25/4/2020 đến ngày 12/01/2021. Như vậy, Công ty X đã vi phạm thời hạn thanh toán. Mức lãi suất chậm thanh toán được thỏa thuận trong hợp đồng là 0,05%/ngày, do đó Công ty CIC39 yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày đối chiếu công nợ đến ngày xét xử là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 11/01/2023 đến ngày 27/9/2024 được tính như sau: 28.211.960 đồng x 0,05%/ngày x 625 ngày = 8.816.238 đồng.

Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Công ty X trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty C. Do đó, Công ty CIC39 yêu cầu Công ty X thanh toán khoản tiền còn nợ của Hợp đồng mua bán số 25/03/HĐMB ngày 27/3/2020 và Phụ lục hợp đồng số 31/05/PLHĐ ngày 27/5/2020, bao gồm tiền cung cấp hàng hóa là 28.211.960 đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 11/01/2023 đến ngày 27/9/2024 là 8.816.238 đồng, là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 306 Luật thương mại nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty C, buộc Công ty X thanh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 37.028.198 đồng.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn Công ty X chịu án phí trên số tiền 37.028.198 đồng phải trả cho Công ty C. Hoàn trả lại cho Công ty C số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Điều 50; Điều 55; Điều 306 Luật thương mại;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần C (tên cũ là: Công ty Cổ phần Đ).

    Buộc Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần C (tên cũ là: Công ty Cổ phần Đ) số tiền còn nợ của Hợp đồng mua bán số 25/03/HĐMB ngày 27/3/2020 và Phụ lục hợp đồng số 31/05/PLHĐ ngày 27/5/2020 là 28.211.960 (Hai mươi tám triệu hai trăm mười một nghìn chín trăm sáu mươi) đồng, tiền lãi chậm thanh toán là 8.816.238 (Tám triệu tám trăm mười sáu nghìn hai trăm ba mươi tám) đồng. Tổng cộng số tiền là 37.028.198 (Ba mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn một trăm chín mươi tám) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    • Công ty TNHH X phải chịu án phí là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
    • Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần C số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 (Ba triệu) đồng đã nộp theo biên lai số 0025939 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Quyền kháng cáo:

    Công ty Cổ phần C, Công ty TNHH X vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THADS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4802/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 4802/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger