Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 4801/2024/KDTM-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Ông Dương Hoàng Chinh

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 155/2023/TLST-KDTM ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6781/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 7722/2024/QĐST–KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1.
  2. Trụ sở: 1508 Tầng A, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Lâm Q, sinh năm: 1977 – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1310/2022/UQ-SM ngày 13/10/2022). (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Công ty TNHH T2.
  4. Trụ sở: 55 đường số A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Hữu T, sinh năm: 1987 – Là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Giám đốc).

    Thường trú: 10 Ngô Văn S, khu vực Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

    Nơi ở: B409 chung cư E, H D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Công ty Cổ phần S1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Lâm Q trình bày:
  2. Ngày 26/01/2021, Công ty Cổ phần T1 (viết tắt là Công ty T1) và Công ty TNHH T2 (viết tắt là Công ty T2) ký Hợp đồng nguyên tắc số 2203/HĐXMSM/TKT-2021 về việc Công ty T1 bán xi măng cho Công ty T2 theo từng đơn đặt hàng, đơn giá theo bảng báo giá và là một phần không thể tách rời của hợp đồng.

    Thời hạn thanh toán: Vào cuối mỗi tháng, hai bên tiến hành đối chiếu khối lượng thực tế đã cung cấp, sau 02 ngày Công ty T1 sẽ xuất hóa đơn, trong vòng 07 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn, Công ty T2 có trách nhiệm thanh toán 100% tiền hàng.

    Công ty T1 đã tiến hành giao hàng với tổng giá trị là 38.465.000 đồng, xuất hóa đơn vào các ngày 30/4/2021, ngày 29/6/2021, ngày 17/7/2021, Công ty T2 đã thanh toán được 13.005.000 đồng, số tiền còn lại là 25.460.000 đồng. Công ty T2 nhiều lần đề nghị thanh toán trễ nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán.

    Nay, Công ty T1 yêu cầu Công ty T2 thanh toán số tiền còn nợ là 25.460.000 đồng.

  3. Bị đơn Công ty TNHH T2 đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
    • Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử, cần rút kinh nghiệm.
    • Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn Công ty TNHH T2 đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng Công ty T2 vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn Công ty T2.

Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty T1.

[2]. Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời khai của đương sự, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:

Công ty Cổ phần T1 và Công ty TNHH T2 ký Hợp đồng nguyên tắc số 2203/HĐXMSM/TKT-2021 ngày 26/01/2021 về việc Công ty T1 bán xi măng cho Công ty T2 theo từng đơn đặt hàng. Công ty T1 đã thực hiện cung cấp xi măng với tổng giá trị là 38.465.000 đồng, qua các hóa đơn số 81 ngày 30/4/2021, số 249 ngày 29/6/2021, số 321 ngày 17/7/2021. Công ty T2 đã thanh toán được 13.005.000 đồng, còn nợ lại 25.460.000 đồng. Trong hợp đồng thỏa thuận thời hạn thanh toán là trong vòng 07 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn, tuy nhiên đến nay, Công ty T2 vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại cho Công ty T1 là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Lời khai của Công ty T1 là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định Công ty T2 còn nợ Công ty T1 số tiền cung cấp hàng hóa là 25.460.000 đồng.

Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1, buộc Công ty T2 thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng nguyên tắc số 2203/HĐXMSM/TKT-2021 ngày 26/01/2021 là 25.460.000 đồng.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn Công ty T2 chịu án phí trên số tiền 25.460.000 đồng phải trả cho Công ty T1. Hoàn trả lại cho Công ty T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 50; Điều 55; Điều 306 Luật thương mại;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần T1.
  2. Buộc Công ty TNHH T2 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần T1 số tiền còn nợ của Hợp đồng nguyên tắc số 2203/HĐXMSM/TKT-2021 ngày 26/01/2021 là 25.460.000 (Hai mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.

  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
    • - Công ty TNHH T2 phải chịu án phí là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
    • - Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần T1 số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 (Ba triệu) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2023/0003322 ngày 12/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Công ty Cổ phần T1, Công ty TNHH T2 vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THADS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4801/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 4801/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger