TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 480/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-4-2024
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Cao Thị Thanh Nhàn
- Ông Nguyễn Hoàng Trung
- Thư ký phiên toà: Bà Quang Thị Thùy Ly – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1054/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Trường H, sinh năm 1988; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh
Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1989; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Lê Trường H trình bày:
Ông và bà Trần Thị Ngọc D tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2020 ngày 05/5/2020. Sau khoảng thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Đã nhiều lần đôi bên tự hòa giải mâu thuẫn nhưng không thể hòa hợp được tính cách, mâu thuẫn vẫn kéo dài. Việc mâu thuẩn giữa ông và bà D là việc riêng của hai vợ chồng nên ông không cho ai biết cũng không báo chính quyền địa phương. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà D.
Về con chung: không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Nguyên đơn – ông Lê Trường H có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt.
* Bị đơn – bà Trần Thị Ngọc D trong quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án cũng không nộp bản khai trình bày ý kiến của mình.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Ông Lê Trường H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc D nên căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn”.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn – bà Trần Thị Ngọc D hiện đang cư trú tại tổ D, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn – ông Lê Trường H đã có bản khai trình bày ý kiến của mình và nộp kèm theo các tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện, đồng thời có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn – bà Trần Thị Ngọc D đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn không cung cấp bản khai trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4]. Về sự tham gia của Viện kiểm sát: Tòa án không tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ nên vụ án này không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Về yêu cầu của các đương sự:
[5.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Lê Trường H và bà Trần Thị Ngọc D chung sống với nhau từ năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2020 ngày 05/5/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Trường H và bà Trần Thị Ngọc D là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Lê Trường H: Hội đồng xét xử nhận thấy tại đơn xin ly hôn, bản tự khai ông Lê Trường H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau; đôi bên đã nhiều lần tự hòa giải nhưng không hàn gắn được tình cảm. Nay ông H xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H được ly hôn với bà D.
Bị đơn – bà Trần Thị Ngọc D đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp kiểm ra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã mở phiên hòa giải đoàn tụ để các bên hàn gắn tình cảm, cũng như các Quyết định, giấy triệu tập tham gia phiên toà. Tuy nhiên, bà D trong suốt quá trình giải quyết vụ án vẫn vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ bà D không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, cũng như không tạo điều kiện để Tòa án hoà giải hàn gắn tình cảm hai bên theo luật định. Xét thấy, hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau, đôi bên đã sống ly thân và không có khả năng đoàn tụ, hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà D là hoàn toàn có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5.2] Về con chung: Ông H trình bày vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Lê Trường H.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Trường H được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc D.
- Về con chung: Ông H trình bày không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Trường H phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0018189 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lê Trường H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
4
Bản án số 480/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 480/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Lê Trường Hận yêu cầu ly hôn với bà Dung
