Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 480/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 8 - 2023

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

Ông Nguyễn Ngọc Bờ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Khanh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 257/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Thạch Hoàng T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số H, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2023 và quá trình tố tụng ông Thạch Hoàng T trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Hồng V tự tìm hiểu, sau đó được gia đình tổ chức đám cưới và chung sống với nhau năm 2004 nhưng đến nay vợ chồng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thì vợ chồng có lúc đầm ấm, hạnh phúc, khi sinh được hai con thì phát sinh mâu thuân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng V.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 và Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009. Ông tự nguyện giao con cho bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng cho con 3.000.000đ/tháng đến khi con đủ 18 tuổi, đủ khả năng lao động sinh sống cho bản thân.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ngày 04/7/2023 ông Thạch Hoàng T trình bày lời khai như sau: Vợ chồng sống ly thân từ ngày 03/3/2018 đến nay. Con chung sống chung với bà Nguyễn Thị Hồng V từ lúc vợ chồng ly thân đến nay. Ông làm công chức xã lương mỗi tháng chỉ khoảng 6.200.000đ nên không có khả năng cấp dưỡng mỗi đứa 5.000.000đ một tháng; và từ lúc sống ly thân thì năm nào tôi cũng gửi cấp dưỡng cho hai đứa 100.000.000đ, có năm 2022 thì không có đưa, còn năm 2023 tháng nào tôi cũng gửi cho 02 đứa 3.000.000đ. Ông chỉ có thể cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 1.500.000đ mỗi đứa, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày Tòa án xét xử.

[2] Quá trình chuẩn bị xét xử bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày:

- Về hôn nhân: Bà thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của ông T;

- Về con chung: Có 02 con chung tên Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 và Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009. Hiện con chung đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà yêu cầu cấp dưỡng nuôi mỗi con chung là 2.000.000đ một tháng, thời gian cấp dưỡng kể ngày 03/3/2018 đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Vì từ ngày 03/3/2018 đến nay ông T bỏ đi để cả hai con chung lại cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng một mình.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà,

Ông Thạch Hoàng T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chủ tọa công bố đơn khởi kiện cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày: Về hôn nhân như trình bày trong quá trình chuẩn xét xử, bà đồng ý ly hôn với ông Thạch Hoàng T; Về con chung: Có 02 con chung tên Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 và Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009. Hiện con chung đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà yêu cầu cấp dưỡng nuôi mỗi con chung là 1.500.000đ một tháng, thời gian cấp dưỡng kể ngày 03/3/2018 đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Vì từ ngày 03/3/2018 đến nay ông T bỏ đi để con lại cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng một mình. Từ lúc ly thân ngày 03/3/2018 thì ba năm đầu ông Thạch Hoàng T có gửi cấp dưỡng cho hai con chung mỗi năm khoảng 20.000.000đ đến 30.000.000đ. Từ ngày 03/3/2021 đến hết năm 2022 ông T1 Hoàng Thân không có cấp dưỡng cho con, từ đầu năm 2023 đến ngày 03/7/2023 thì ông Thạch Hoàng T có cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 3.000.000đ. Do đó, bà yêu cầu cấp dưỡng mỗi đứa 1.500.000đ/tháng từ ngày 03/3/2018 đến ngày 03/01/2023 và từ ngày 03/7/2023 đến ngày 03/8/2023, tiếp tục cấp dưỡng kể

từ ngày 04/8/2023 đến khi con thành niên và có khả năng lao động; không yêu cầu cấp dưỡng từ ngày 04/01/2023 đến ngày 03/7/2023 do trong thời gian này ông Thạch Hoàng T có cấp dưỡng cho con. Bà đồng ý khấu trừ số tiền 90.000.000đ ông Thạch Hoàng T đã cấp dưỡng cho con từ ngày 03/3/2018 đến ngày 03/3/2021; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V là vợ chồng; Về con chung: Giao Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Thạch Hoàng T phải cấp dưỡng nuôi con chung Thạch Tuấn K và Thạch Nhật K1 mỗi đứa 1.500.000đ một tháng kể từ ngày 03/3/2018 đến ngày 03/01/2023. Từ ngày 03/7/2023 đến ngày 03/8/2023 cấp dưỡng nuôi con chung Thạch Nhật K1 mỗi tháng 1.500.000đ. Công nhận sự tự nguyện khấu trừ số tiền 90.000.000đ ông Thạch Hoàng T đã cấp dưỡng vào số tiền phải cấp dưỡng. Ông Thạch Hoàng T phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi con chung Thạch Nhật K1 kể từ ngày 04/8/2023 đến khi con thành niên và có khả năng lao động; Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 nên đã thành niên kể từ ngày 05/5/2023 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét cấp dưỡng kể từ ngày này. Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Ông Thạch Hoàng T khởi kiện tranh chấp ly hôn và nuôi con với bà Nguyễn Thị Hồng V. Do đó, HĐXX xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con. Bà Nguyễn Thị Hồng V có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho ông Thạch Hoàng T. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.3] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Ông Thạch Hoàng T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Hồng V có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Thạch Hoàng T là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

HĐXX thấy rằng, ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V sống chung từ năm 2004 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn.

Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Do đó, HĐXX không công nhận ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V là vợ chồng là phù hợp các quy định của pháp luật.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V thống nhất có hai con chung tên Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 và Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009. Các con chung sống chung với bà Nguyễn Thị Hồng V từ lúc vợ chồng ly thân ngày 03/3/2018 đến nay, bà Nguyễn Thị Hồng V yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả hai con chung, ông Thạch Hoàng T thống nhất giao con chung cho bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu Thạch Tuấn K và Thạch Nhật K1 đều có văn bản trình bày ý kiến là có nguyện vọng sống chung với bà Nguyễn Thị Hồng V.

Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”.

Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 tính đến ngày 05/5/2023 đã thành niên và có khả năng lao động nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với Thạch Tuấn K không còn là nghĩa vụ của cha, mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đối với Thạch Tuấn K kể từ ngày 05/5/2023.

Đối với Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009 Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Thạch Nhật K1 sống chung với bà Nguyễn Thị Hồng V từ ngày 03/3/2018 đến nay. Do đó, nhằm đảm bảo sự ổn định về tâm lý, cuộc sống, sinh hoạt của cháu, cũng như sự thống nhất của các đương sự và nguyện vọng của cháu nên HĐXX tiếp tục giao cháu Thạch Nhật K1 cho bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đúng nguyện vọng của cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V thống nhất ông bà sống ly thân từ ngày 03/3/2018 đến nay con chung do bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau: “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.

Khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như sau: “Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con như sau: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Thạch Hoàng T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ mỗi đứa, bà Nguyễn Thị Hồng V thống nhất ý kiến của ông Thạch Hoàng T. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở buộc ông Thạch Hoàng T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ trên mỗi người con chung.

Về thời gian cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử thấy rằng, việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nhưng từ ngày 03/3/2018 đến nay cả con hai con chung do bà Nguyễn Thị Hồng V một mình trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên ông Thạch Hoàng T phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho con kể từ ngày 03/3/2018 đến khi con thành niên và có khả năng lao động là phù hợp.

Tuy nhiên, từ ngày 04/01/2023 đến ngày 03/7/2023 bà Nguyễn Thị Hồng V không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Thạch Hoàng T kể từ ngày 04/01/2023 đến ngày 03/7/2023.

Do đó, bà Nguyễn Thị Hồng V yêu cầu cấp dưỡng từ ngày 03/3/2018 đến ngày 04/01/2023 và từ ngày 04/7/2023 đến ngày 03/8/2023 và tiếp tục tính từ ngày 04/8/2023 đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Hồng V cho rằng từ ngày 03/3/2018 đến ngày 03/3/2021 ông Thạch Hoàng T có hỗ trợ 90.000.000đ nên đồng ý khấu trừ vào số tiền cấp dưỡng.

Do đó, nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Thạch Hoàng T đối với hai con chung được xác định như sau:

Đối với con chung Thạch Nhật K1: Từ ngày 03/3/2018 đến ngày 04/01/2023 là 57 tháng; từ ngày 04/7/2023 đến ngày 03/8/2023 là 01 tháng. Tổng cộng là 58 tháng.

Đối với con chung Thạch Tuấn K, sinh ngày 05/5/2005 thì đến ngày 05/5/2023 đã thành niên, có khả năng lao động nên việc cấp dưỡng cho Thạch Tuấn K tính từ ngày 03/3/2018 đến ngày 04/01/2023 là 57 tháng.

((57 tháng X 3.000.000đ/tháng) + (1 tháng X 1.500.000đ)) – 90.000.000đ = 82.500.000đ (T2 mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Ông Thạch Hoàng T còn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009 kể từ ngày 04/8/2023 đến khi con thành niên và có khả năng lao động.

Đối với Thạch Tuấn K tính đến ngày 05/5/2023 đã thành niên và có khả năng lao động nên ông Thạch Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi Thạch Tuấn K kể từ ngày 05/5/2023.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

HĐXX thấy rằng, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Ông Thạch Hoàng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp, ông Thạch Hoàng T phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị Hồng V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 15; Điều 69; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 107 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a, khoản 5; điểm a, đ khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Không công nhận ông Thạch Hoàng T và bà Nguyễn Thị Hồng V là vợ chồng.

2. Về quan hệ con chung:

Giao con chung Thạch Nhật K1, sinh ngày 06/7/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Thạch Hoàng T phải cấp dưỡng nuôi con chung Thạch Nhật K1 và Thạch Tuấn K với tổng số tiền là 82.500.000đ (T2 mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày 04/8/2023 đến khi Thạch Nhật K1 thành niên và có khả năng lao động ông Thạch Hoàng T còn phải cấp dưỡng nuôi con chung Thạch Nhật K1 mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Con chung Thạch Tuấn K tính đến ngày 05/5/2023 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con đối với Thạch Tuấn K kể từ ngày 05/5/2023.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí:

Ông Thạch Hoàng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con nhưng khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005508 ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú. Ông Thạch Hoàng T phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án 15 hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND huyện Châu Phú;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 480/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 480/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger