TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 480/2024/DS-PT Ngày 06-12-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán:
Ông Dương Hùng Quang
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 328/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 233/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 292/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Lê Quốc H, sinh năm: 1976. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bà Phan Thị P, sinh năm: 1977. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm: 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bà Lê Thanh T1, sinh năm: 1987. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thanh T1: Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm: 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn H1 Trên là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 5 năm 2024, cũng như lời trình bày tại phiên toà của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 01/09/2021dl (25/7/2021al), nguyên đơn có cho ông Nguyễn Hùng T và bà Lê Thanh T1 vay số tiền 500.000.000 đồng, vay có thế chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2021 giữa bà Nguyễn Thị T2, địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau với ông Nguyễn H1 Trên. Các bên có lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà gắn liền với đất ngày 01/9/2021, thoả thuận lãi suất 5%/tháng, thời hạn 12 tháng. Sau khi vay, ông T, bà T1 có thanh toán 150.000.000 đồng, là tiền lãi của 04 tháng. Nay, nguyên đơn yêu cầu ông T, bà T1 trả lại số tiền 500.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi tính từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/4/2024 là 28 tháng, tính theo lãi suất 20%/năm = 233.000.000 đồng.
Bị đơn là ông Nguyễn Hùng T trình bày:
Ngày 01/9/2021, ông T và bà T1 có vay của ông H, bà P số tiền 500.000.000 đồng, vay không thế chấp, lãi suất 5%/tháng, không thoả thuận thời hạn thanh toán. Sau khi vay, đóng lãi đủ đến tháng 01/2023 số tiền 400.000.000 đồng. Ngày 25/01/2023 trả 100.000.000 đồng tiền vay gốc. Đóng lãi mỗi tháng 20.000.000 đồng từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2024. Ngày 25/4/2024 trả 50.000.000 đồng vay gốc. Ông T xác định còn nợ lại ông H, bà P số tiền gốc 350.000.000 đồng và tiền lãi từ tháng 02/2024. Tuy nhiên, ông T xác định đã trả lãi cho ông H, bà P quá nhiều nên yêu cầu chỉ thanh toán cho ông H, bà P tiền vay gốc còn lại là 350.000.000 đồng.
Sau khi trả 50.000.000 đồng, trong khi nói chuyện với ông H, bà P thì ông T có ghi âm, ghi hình lại nội dung ông H có thừa nhận nợ gốc còn lại của ông T, bà T1 nợ là 350.000.000 đồng. Các lần đóng lãi đều thanh toán bằng tiền mặt và không làm biên nhận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc H, bà Phan Thị P. Buộc ông Nguyễn Hùng T, bà Lê Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Quốc H, bà Phan Thị P số tiền 733.000.000 (Bảy trăm ba mươi ba triệu) đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 bị đơn ông Nguyễn H1 Trên kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng: Công nhận số tiền 150.000.000 đồng mà bị đơn đã đưa cho nguyên đơn là số tiền gốc, đối trừ với số tiền vay 500.000.000 đồng ban đầu thì số tiền còn lại bị đơn phải trả là 350.000.000 đồng. Về lãi suất: Lãi suất từ thời điểm vay đến tháng 04/2024 các bên đã tự thỏa thuận xong nên bị đơn không phải chịu, lãi suất từ thời điểm tháng 05/2024 đến ngày xét xử 12/08/2024 bị đơn đồng ý đóng theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Hùng T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hùng T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hùng T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đưa ra lý do kháng cáo cụ thể là: Án sơ thẩm tuyên buộc phải trả số tiền lãi 233.000.000 đồng là không đúng vì từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/4/2024 chỉ 27 tháng, nếu chấp nhận 150.000.000 đồng là tiền lãi bị đơn đóng 06 tháng thì tháng đóng lãi tiếp theo phải là 01/3/2022 chứ không phải 25/01/2022. Mức lãi suất 20%/ năm là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất nội dung vào ngày 01/09/2021 dl (25/7/2021al), ông H, bà P có cho ông Nguyễn Hùng T và bà Lê Thanh T1 vay số tiền 500.000.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng sau khi vay ông T, bà T1 có thanh toán 150.000.000 đồng tiền lãi. Bị đơn cho rằng sau khi vay, đóng lãi đủ đến tháng 01/2023 số tiền 400.000.000 đồng. Ngày 25/01/2023 trả 100.000.000 đồng tiền vay gốc. Đóng lãi mỗi tháng 20.000.000 đồng từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2024. Ngày 25/4/2024 trả 50.000.000 đồng tiền vay gốc. Ông T xác định còn nợ lại ông H, bà P số tiền gốc 350.000.000 đồng và tiền lãi từ tháng 02/2024.
[2] Xét trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị đơn xác định các lần đóng lãi đều thanh toán bằng tiền mặt mà không làm
biên nhận tổng cộng số tiền 400.000.000 đồng còn phía nguyên đơn không thừa nhận có đóng số tiền lãi như bị đơn trình bày nên không có căn cứ chấp nhận bị đơn đã đóng số tiền lãi 400.000.000 đồng.
Đối với số tiền 150.000.000 đồng bị đơn cho rằng là trả tiền vốn gốc nhưng nguyên đơn không thừa nhận mà cho rằng đây là số tiền lãi. Bị đơn cung cấp ghi âm cuộc nói chuyện giữa các bên sau khi bị đơn trả 50.000.000 đồng. Nội dung cuộc nói chuyện với ông H, bà P có ghi âm, ghi hình lại nội dung ông H có thừa nhận nợ gốc còn lại của ông T, bà T1 nợ là 350.000.000 đồng. Vấn đề này vào ngày 01/8/2024, Toà án cấp sơ thẩm đã công khai đoạn clip (ngày 12/12/2023) ghi lại nội dung nói chuyện giữa ông T và ông H. Ông H thừa nhận giữa ông H và ông T có nói chuyện như nội dung đã ghi âm, theo đó ông H thống nhất đối trừ 150.000.000 đồng là thanh toán tiền gốc còn lại 350.000.000 đồng, lãi cho trả dần nếu thanh toán 350.000.000 đồng trong 3, 4 tháng tới, nội dung ghi âm lại không hết toàn bộ cuộc nói chuyện giữa ông H và ông T nên ông H không đồng ý nội dung ông T đã trình bày nên không có cơ sơ chấp nhận chứng cứ này.
Nguyên đơn yêu cầu ông T, bà T1 trả lại số tiền 500.000.000 đồng tiền vay gốc, tiền lãi tính từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/4/2024 là 28 tháng, tính theo lãi suất 20%/năm = 233.000.000 đồng. Xét thấy, ông T thừa nhận nợ vay nhưng không có chứng cứ chứng minh việc đã thanh toán lãi là 400.000.000 đồng và vốn gốc là 150.000.000 đồng cho nguyên đơn nên chỉ có căn cứ chấp nhận số tiền 150.000.000 đồng bị đơn đã trả là lãi đóng cho nguyên đơn, sẽ được đối trừ vào số lãi được điều chỉnh theo quy định pháp luật, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn từ khi vay đến ngày xét xử sơ thẩm. Do không có cơ sở bị đơn đã trả số vốn 150.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số vốn 500.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Đối với số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu và án sơ thẩm chấp nhận là cao và không đúng quy định nên cần sửa bản án sơ thẩm điều chỉnh lãi theo quy pháp luật cho phù hợp.
Cụ thể: Số tiền vay 500.000.000 đồng từ khi vay ngày 01/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 12/8/2024 tổng cộng là 35 tháng 20 ngày x 500.000.000 đồng x 20 % /01 năm = 297.222.222 đồng - 150.000.000 đồng = 147.222.222 đồng là số tiền lãi còn lại bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn.
Như vậy, tổng cộng số tiền vốn và tiền lãi mà bị đơn ông T, bà T1 phải trả cho nguyên đơn ông H, bà P là 647.222.222 đồng.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hùng T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời về phần lãi suất và án phí.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật trên số tiền phải trả.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn H1 Trên không phải chịu. Ngày 26/8/2024 ông T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005555 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn H1 Trên.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 233/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc H, bà Phan Thị P. Buộc ông Nguyễn Hùng T, bà Lê Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Quốc H, bà Phan Thị P số tiền 647.222.222 đồng (Sáu trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm hai mươi hai nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Nguyễn Hùng T, bà Lê Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 29.888.889 đồng (chưa nộp).
- + Ông Lê Quốc H, bà Phan Thị P không phải chịu án phí. Ngày 28/5/2024 ông H đã dự nộp tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền 16.660.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm
Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005046 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn H1 Trên không phải chịu. Ngày 26/8/2024 ông T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005555 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Dương Hùng Quang – Hoàng Thị Hải Hà | Châu Minh Hoàng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Hoàng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 480/2024/DS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 480/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm
