Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 480/2023/HS-PT

Ngày: 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Các thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình

Ông Nguyễn Công Sự.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 326/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thanh T, do có kháng cáo của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo: Trần Thanh T, sinh năm 1995, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trình độ văn hoá: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Cao Đài. Con ông Trần Thanh M, sinh năm: 1946 và bà Võ Thị K, sinh năm: 1956; Có vợ tên Đoàn Thị Ngọc O, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn sinh năm 2017 và nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/02/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tại Bản án số 06/2023/HSST.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt).

Bị hại: Bà Võ Thị N1, sinh năm 1970. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1972. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 12/10/2022, bà Võ Thị Hồng N (sinh năm 1972, trú tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai) cùng một số đối tượng khác tham gia đánh bài ăn tiền tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang và ra quyết định tạm giữ hình sự đối với bà N để điều tra làm rõ. Bà Võ Thị N1 (là chị ruột của bà Võ Thị Hồng N) gặp Trần Thanh T tại nhà của T thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai để hỏi về việc bà Võ Thị Hồng N bị Công an bắt về hành vi đánh bạc đang bị tạm giữ và nhờ T tìm cách lo cho bà N được tại ngoại, do T đã từng được tại ngoại (bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản nhưng cho hưởng án treo) nên T nghĩ có thể hướng dẫn được cho bà N1 về việc sẽ làm thủ tục bảo lãnh. Mặc dù không biết ai là người thụ lý và giải quyết hồ sơ nhưng T nói với bà N1 là T có thể liên hệ xin cho bà N tại ngoại, đưa cho T số tiền 70.000.000 đồng để đóng tiền tại ngoại cho bà N, lúc này bà N1 nói với T để báo lại sau.

Sau đó T lên mạng tìm hiểu và gọi tổng đài tư vấn pháp luật của Văn phòng luật sư “Bình” (không xác định được họ và địa chỉ văn phòng cụ thể) thì được luật sư trả lời đối với trường hợp bị tạm giữ về hành vi đánh bạc thì có thể được bảo lãnh (tại ngoại) nên T biết trong trường hợp này bà N sẽ được tại ngoại. T không thông báo cho bà N1 biết nội dung này và cũng không hướng dẫn bà N1 làm thủ tục để xin bảo lãnh cho bà N. Hai ngày sau bà N1 đưa cho T 70.000.000 đồng tại nhà của T, T nói với bà N1 70.000.000 đồng chia thành 02 khoản gồm: 40.000.000 đồng tiền tại ngoại và 30.000.000 đồng tiền để lo án treo. Sau đó T tiếp tục gọi điện thoại tư vấn luật sư về việc hưởng án treo thì được luật sư trả lời việc án treo không xử lý được. Ngày hôm sau bà N được tại ngoại, sau đó bà N1 gọi điện thoại hỏi T tại sao hết 70.000.000 đồng thì T nói việc lo án treo không được nên đã trả lại cho bà N1 số tiền 30.000.000 đồng thông qua số tài khoản 159704070096312 Ngân hàng H chi nhánh huyện T, số tiền 40.000.000 đồng Tình giữ lại đề tiêu xài cá nhân.

Sau đó, T biết được bà N làm đơn tố cáo việc T nhận của bà N1 số tiền 40.000.000 đồng, do bản thân đang chấp hành án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và không muốn liên quan đến pháp luật nên T đã chủ động gặp bà N1 để trả lại số tiền 40.000.000 đồng. Lúc này bà N1 không đồng ý nhận lại số tiền trên và yêu cầu T phải trả cho bà N vì trước đó bà N đã trả cho bà N1 40.000.000 đồng. T liên hệ bà N để trả lại số tiền 40.000.000 đồng nhưng bà N không đồng ý nhận.

Đối với số tiền 287.000.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone 6 và 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax là tài sản của bị cáo Trần Thanh T, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo T.

Tại Cáo trạng số: 196/CT-VKS-TB ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 19/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng N có đơn kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để điều tra, truy tố bị cáo theo tính chất, mức độ, hành vi đã thực hiện vì cho rằng bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo chưa đúng người, đúng tội, xác định không đúng đối tượng bị hại.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng N phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Bị cáo T có hành vi đưa ra thông tin gian dối là có quen biết với cán bộ đang thụ lý hồ sơ vụ án đánh bạc của bà Võ Thị Hồng N đang bị Công an huyện T tạm giữ và có thể lo cho bà N được tại ngoại, làm cho bà Võ Thị N1 tưởng thật để lừa đảo chiếm đoạt của bà Võ Thị N1 số tiền 40.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm đã xác định bà Võ Thị N1 là bị hại, bà Võ Thị Hồng N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và xử phạt bị cáo Trần Thanh T 07 (bảy) tháng tù là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Theo điểm g khoản 2 Điều 65 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền: “Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình”. Do đó, bà N không được quyền kháng cáo về tội danh, hình phạt và những vấn đề khác không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng N làm trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm: Vào tháng 10/2022, tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối (bị cáo nói với bà Võ Thị N1 là bị cáo quen biết với cán bộ đang thụ lý hồ sơ vụ án đánh bạc của bà Võ Thị Hồng N là em gái bà N1 đang bị Công an huyện T tạm giữ về hành vi đánh bạc và có thể lo cho bà N được tại ngoại) làm cho bà Võ Thị N1 tưởng thật để lừa đảo chiếm đoạt của bà Võ Thị N1 số tiền 40.000.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T 07 (bảy) tháng tù là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Bị cáo T có hành vi đưa ra thông tin gian dối là có quen biết với cán bộ đang thụ lý hồ sơ vụ án đánh bạc của bà Võ Thị Hồng N đang bị Công an huyện T tạm giữ và có thể lo cho bà N được tại ngoại, làm cho bà Võ Thị N1 tưởng thật để lừa đảo chiếm đoạt của bà Võ Thị N1 số tiền 40.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm xác định bà Võ Thị N1 là bị hại, bà Võ Thị Hồng N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ. Do đó, bà N cho rằng cấp sơ thẩm xác định không đúng bị hại là không có cơ sở.

Theo điểm g khoản 2 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền: “Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình”. Do đó, bà N chỉ được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Bà N không được quyền kháng cáo về tội danh, hình phạt và những vấn đề khác không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Hồng N.

[4] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Đối với các quyết định khác trong Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 07 (bảy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bà Võ Thị Hồng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 190/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai; VKS sơ thẩm;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Công an cấp quận/huyện;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo, đương sự trong vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 480/2023/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 480/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trân Thanh T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger