Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 480/2025/HS-PT

Ngày: 14- 11 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Vũ Đ;
Các Thẩm phán:Ông Điều Văn H;
Ông Hồ Sỹ H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân T, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn A - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 399/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H. Do có kháng cáo của các bị cáo và người bào chữa của bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H; đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

  1. Phạm Gia H, sinh ngày 13/9/2007 (khi phạm tội 16 năm, 10 tháng, 03 ngày) tại tỉnh Bắc Giang; (đồng thời là bị hại trong vụ án); Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Thôn Dẫm Chùa, xã Bắc Lũng, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; nay là xã Bắc Lũng, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Phòng 1704 – 17T10 tổ 13 phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; nay là phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Học sinh; Con ông Lê K và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Nguyễn Đăng M, sinh năm 2002 tại thành phố Hà Nội; (đồng thời là bị hại trong vụ án); Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: P92 C10 tập thể Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội nay là phường Kim Liên, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Phòng 901 chung cư Capital Garden, ngõ 102 đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội nay là phường Kim Liên, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Nguyễn Đăng T và bà: Phạm Thị Sang A; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Trần Xuân L, sinh ngày 20/11/2007 (khi phạm tội 16 năm, 7 tháng, 26 ngày) tại Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Số nhà 45 phố Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội nay là phường Ngọc Hà, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số nhà 5 hẻm 16 ngách 1 ngõ 271 phố Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội nay là phường Khương Đình, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Trần Xuân T; và bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Nguyễn Thanh H, sinh ngày 26/10/2007 (khi phạm tội 16 năm, 8 tháng, 20 ngày) tại Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Căn hộ 18 nhà H tập thể thuốc lá Thăng L, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; nay là phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Phòng 212 nhà A3 tập thể Cơ khí, số 129 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội nay là phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Nguyễn Đức A và bà: Đào Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  • * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng M (theo yêu cầu): Luật sư Lê Văn T và Luật sư Bùi Văn T - Công ty luật Giải pháp Solution Law, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
  • * Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H có kháng cáo (theo yêu cầu): Luật sư Phạm Thư - Văn phòng luật sư Dương và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí M; có mặt.
  • * Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Nguyễn Thanh T – Công ty Luật TNHH MTV An Tuệ, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
  • * Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo không kháng cáo, được Tòa án triệu tập:
    • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Gia H: Ông Lê K và bà Nguyễn Thị H (là bố, mẹ bị cáo); Chỗ ở: Phòng 1704 – 17T10 tổ 13 phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; bà Hạnh có mặt.
    • Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thanh H: Ông Nguyễn Đức A (bố đẻ bị cáo); Chỗ ở: P 212 nhà A3 tập thể cơ khí số 129 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội nay là phường Thanh Xuân, Hà Nội; có mặt.
    • Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Xuân L: Bà Nguyễn Thị Hoa (mẹ đẻ bị cáo); Chỗ ở: Số nhà 5 hẻm 16 ngách 1 ngõ 271 phố Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội nay là phường Khương Đình, Thành phố Hà Nội; có mặt.
  • Trong vụ án còn có: Bị cáo Nguyễn Tuấn N, Dương Khánh L; đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Tuấn N và người có quyền lợi, N vụ liên quan không kháng cáo; các bị cáo không bị kháng nghị. Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/7/2024, Nguyễn Trung H (sinh năm 2006; trú tại số nhà 42, đường vành đai 3, tổ 14, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 29H2-499.58 chở bạn gái là Đặng Phương T (sinh năm 2008; trú tại ngõ 94, phố Tân Mai, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) cùng với Dương Khánh L (sinh năm 2006; trú tại số nhà 215, ngõ 179 phố Vĩnh Hưng, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy hiệu Honda SH (không xác định được biển kiểm soát) chở Nguyễn Tuấn N (sinh năm 2006; trú tại số nhà 931, đường Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) đi chơi trên nhiều tuyến phố thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tất cả đi đến đường Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm thì xe của H vượt lên đi trước, xe của L đi chậm lại phía sau. Khi xe của H chở T đi đến khu vực phố Thi Sách, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng thì gặp nhóm Phạm Sơn An (sinh năm 2007; trú tại số nhà 12A, ngõ 67, phố Cầu Cốc, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) đi 03 xe máy gồm: An điều khiển xe máy hiệu Honda SH, biển kiểm soát 29L1-976.52 chở Nguyễn Thanh H (sinh năm 2007; trú tại P212, nhà A3, tập thể Cơ khí số 129, đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) ngồi giữa và Phạm Gia H (sinh năm 2007; trú tại P1704, T10, tổ 13, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) ngồi sau; Nguyễn Đăng M (sinh năm 2002; trú tại P901, chung cư Capital Garden, ngõ 102, đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy hiệu Honda SH, biển kiểm soát 29BD-039.10 chở Ngô Phương L (sinh năm 2008; trú tại số nhà 11, ngõ 49/1/15, phố Đức Giang, phường Đức Giang, quận L Biên, thành phố Hà Nội); Trần Xuân L (sinh năm 2007; trú tại số nhà 05, hẻm 16, ngách 1, ngõ 271, phố Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy hiệu Honda Vison (không gắn biển kiểm soát) chở Nguyễn Hồng S (sinh năm 2009; trú tại số nhà 12, ngõ 583, phố Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) ngồi giữa và Ngô Tấn Tài (sinh năm 2007; trú tại số nhà 99A, phố Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) ngồi sau. Trong quá trình di cHển, H và H có lời qua tiếng lại với nhau. H ra hiệu cho xe của H tấp vào lề đường nên H dừng xe tại trước cửa quán cafe ở số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm rồi vẫy H lại để nói cHện. Lúc này, nhóm của H đã đi qua ngã tư Phan Chu Trinh - Trần Hưng Đạo, H thấy H vẫy lại thì bảo cả nhóm gồm An chở Hải, H; M chở L và L chở Sơn, Tài quay xe lại chỗ H. Khi gặp H, H và cả nhóm xuống xe. H lao đến dùng tay, chân đánh H; H chống trả nhưng không được nên bỏ chạy thì bị H đuổi theo. Thấy vậy, Hải cùng H đuổi theo H và giơ tay phải lên đấm về phía H nhưng không trúng. H chạy vào vỉa hè quán cafe lấy ở cửa quán 01 chiếc bàn gấp màu đen bằng kim loại giơ lên đỡ thì bị H hất bàn xuống đất. H tiếp tục nhặt chiếc bàn cầm đuổi theo đánh lại H và Hải thì H và Hải chạy ra giữa lòng đường Trần Hưng Đạo, nên H vứt chiếc bàn xuống đất. Lúc này, M lao vào dùng tay trái túm áo H và tay phải đấm 02 cái vào tay phải của H, còn L lấy 01 chiếc ghế gập màu đen có khung bằng kim loại sáng màu ném trúng vào tay H. Khi hai bên đang đánh nhau thì xe của L chở N đi đến. Thấy H bị đánh, N bảo L dừng xe lại. N xuống xe dùng tay phải rút trong túi quần sau bên phải ra 01 con dao mũi nhọn cong, sắc (dạng dao bấm, lưỡi dao và chuôi dao bằng kim loại, màu bạc, một cạnh dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2,5 - 03cm, chuôi dao dài khoảng 07 - 08cm) đi về phía H đứng đối diện, tay phải cầm dao đâm 01 phát theo hướng từ phải sang trái trúng vào phần sườn trái của H rồi rút dao ra. N tiếp tục chạy đến đứng phía sau M và cầm dao đâm liên tiếp 02 nhát, 01 nhát vào phần bắp dưới tay trái và 01 nhát trúng vào sườn trái của M, làm M nằm gục xuống đất. N cầm dao bỏ chạy lên xe máy của L rời khỏi hiện trường. Cùng lúc này, chị Nguyễn Thị Hền T (sinh năm 1985; trú tại số nhà 102, đường An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) và chị Nguyễn Diệu L (sinh năm 1983; trú tại số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) là chủ quán cafe đang bán hàng ở đó đến can ngăn. Sau đó, H và M được đưa đến Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cấp cứu.

Khi N lên xe máy, L thấy N cầm dao và mũi dao có dính máu. L hỏi nhưng N không nói gì mà bảo L chở về nhà. N dặn L không được nói sự việc trên cho ai. Sau đó, N đi bộ ra bờ sông Hồng (cách nhà N khoảng 200m) và vứt con dao đã sử dụng để đâm H và M xuống sông Hồng rồi đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày hôm sau, N biết được M và H bị thương nặng nên đã bỏ trốn.

Hậu quả: Nguyễn Đăng M và Phạm Gia H bị Nguyễn Tuấn N dùng dao đâm bị thương nặng, được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ ngày 17/7/2024 đến ngày 22/7/2024 ra viện; còn Nguyễn Trung H bị thương tích nhẹ.

Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm đã phối hợp với các Cơ quan chức năng tiến hành thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định thương tích. Kết quả như sau:

Tại Biên bản thực nghiệm điều tra hồi 19 giờ ngày 16/12/2024 tại đoạn đường trước số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, xác định: “... Hiện trường nơi tiến hành thực nghiệm điều tra tại khu vực trước số nhà 23 phố Trần Hưng Đạo, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đường rộng 14m, vỉa hè rộng 7m.

Kết quả dựng lại và thực nghiệm: H điều khiển xe Vision dừng tại khu vực lòng đường trước cửa số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo (vị trí số 1), cách mép vỉa hè nhà 23 Trần Hưng Đạo 0,7m, cách bốt điện (ký hiệu TBA PHAN H CHÚ 2) trên vỉa hè trước nhà 23 Trần Hưng Đạo là 9,6m. Xe của Trần Xuân L cách mép vỉa hè 03m, cách bốt điện 5,1m, cách xe của H 3,9m. Xe của Nguyễn Thanh H và Phạm Gia H cách mép vỉa hè 2,9m, cách xe của L 0,4m. Xe của Nguyễn Đăng M cách mép vỉa hè 2,9m, cách xe của Hải và H 0,63m. Tất cả các xe đều đỗ dưới lòng đường trước cửa 23 Trần Hưng Đạo, đầu các xe hướng về ngã tu Trần Hưng Đạo - Phan H Chú.

Sau khi các bị cáo dừng xe lại, H và Hải đi về phía vị trí của H. H lùi lại về sau (vị trí số 2) cách bốt điện 7,89m, cách mép vỉa hè 1,6m, H đứng cách H 0,6m, Hải đứng phía sau H. Tại đây H dùng tay phải dấm hướng vào mặt H. H bỏ chạy về phía ngã tư Trần Hưng Đạo - Phan Chu Trinh, sau đó lấy bàn trên khu vực vỉa hè 0,6m, cách (vị trí số 2) 9,3m. Tại đây H cầm bàn bằng hai tay, H chạy đuổi áp sát đến vị trí của H, M đứng cạnh H, Hải lùi lại về phía lòng đường, L đứng gần vị trí xe máy của H. L đứng cách vị trí H cầm bàn (vị trí số 3) 11,1m, M cách (vị trí số 3) 9,5m, Hải cách vị trí của H (vị trí số 3) là 4,2m. H cầm bàn bằng hai tay giơ lên dọa nhóm của H, nhóm H lùi lại về phía lòng đường thì H vứt bàn xuống phần lòng đường sát mép vỉa hè. Sau đó H chạy về phía L, H chạy về phía để xe máy, Hải chạy ra đầu xe máy của Hải, M đi về phía L, H.

Tại đây (vị trí số 4) cách mép vỉa hè 0,37m, cách bốt điện 6,5m, cách (vị trí số 3) 11,2m L cầm ghế đưa lên, M dùng hai tay ôm ghì lấy phần vai của H, hai bên giằng co thì M buông H ra. Khi M buông H ra thì L cầm ghế bằng tay phải, đưa ghế lên cao ra phía sau tạo đà ném về H. Khi nhóm M, H, L xô sát nhau thì Dương Khánh L chở Nguyễn Tuấn N đến và dừng xe tại khu vực lòng đường trước cửa số 23 Trần Hưng Đạo (vị trí số 5), cách mép vỉa hè 5,6m, đo vuông góc cách (vị trí số 3) 0,9m, cách bốt điện 19,2m. N nhảy xướng xe chạy về phía H (lúc này H đang quay lại nhặt dép) (vị trí số 6), cách vị trí L dừng xe (vị trí số 5) 7,5m, cách mép vỉa hè 3,3m. N rút dao từ trong túi quần phải, cầm dao bằng tay phải, đứng đối diện với H đâm theo hướng từ phải sang trái vào phần sườn trái của H. Vị trí khi N đâm H cách H 0,6m. Sau khi đâm vào phần sườn trái của H thì N tiếp tục chạy về phía M đang đứng gần mép vỉa hè. N chạy đến đứng sau lưng M 0,78m. Tại đây N cầm dao bằng tay phải đâm vào phần bắp dưới tay trái của M, sau đó tiếp tục đâm nhát thứ hai vào sườn trái của M.

Sau khi đâm M, N bỏ chạy ra phía xe của L đang chờ dưới lòng đường (vị trí số 8), cách vị trí N đâm M (vị trí số 7) là 7,4m, cách mép vỉa hè 5,3m, cách bốt điện 14m. N lên xe ngồi sau L, úp mặt vào phần lưng của L, dao để giữa chỗ ngồi của M và L. L điều khiển xe chở N bỏ đi theo về hướng Bệnh viện 108. H sau khi bị đâm thì đi về phía xe của M (vị trí số 9) trùng với vị trí ban đầu dừng xe (vị trí số 1) và ngồi lên xe. Nhóm của H, L, Hải lên xe bỏ đi theo hướng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, M nằm gục xuống tại vỉa hè trước của 23 Trần Hưng Đạo (vị trí số 10) cách mép vỉa hè 0,63m, cách bốt điện 6,3m. Sau đó M được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Quân y 108”.

Vật chứng vụ án: Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật, tài sản liên quan, gồm:

  • - Thu giữ do Dương Khánh L giao nộp: 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, trên mặt trước của chiếc áo có in hoạ tiết, dòng chữ DSQUARED2 màu trắng; 01 quần dài bằng nỉ màu xám - đen, trên mặt trước của ống quần bên trái có in chữ DSQUARED2, CERESIO 9, MILANO màu trắng.
  • - Thu giữ do bà Phạm Thị Sang A (sinh năm 1978; trú tại P901, chung cư Capital Garden, ngõ 102, đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; là mẹ Nguyễn Đăng M) giao nộp: 01 chiếc xe máy hiệu Honda SH 160i màu xám đen, biển kiểm soát 29BD-039.10.
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tiến hành trích xuất và lưu trữ trong 01 USB nội dung camera ghi nhận hình ảnh thời điểm xảy ra vụ án tại Khách sạn Lapis Hotel tại số nhà 21, đường Trần Hưng Đạo, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Sau khi bị Nguyễn Tuấn N dùng dao đâm, Phạm Gia H được đưa vào viện trong tình trạng tỉnh, da niêm mạc nhợt, khó thở vừa, mạch 110 lần/phút, Hết áp 110/60mmHg, SpO2 94 - 96%, có vết thương thành ngực trái, hội chứng 3 giảm phổi trái, có tràn máu - tràn khí màng phổi trái mức độ nhiều, rách nhu mô phổi ở thùy dưới, đã được phẫu thuật cấp cứu xử lý các tổn thương. Có biểu hiện suy hô hấp cấp kèm rối loạn Hết động. Nếu không được cấp cứu điều trị kịp thời, các tổn thương tiến triển nặng sẽ dẫn đến suy hô hấp nguy kịch, sốc, gây nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1118/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố Hà Nội đối với Phạm Gia H, kết luận:

“... Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Các kết quả chính: Vết thương - vết mổ ở thành ngực bên trái 03%; Vết mổ đặt dẫn lưu màng phổi trái 01%; Tổn thương màng phổi trái, đã phẫu thuật dẫn lưu 05%; Tổn thương nhu mô phổi trái, đã phẫu thuật cắt bỏ nhu mô tổn thương, còn di chứng gây xẹp nhu mô thùy dưới phối trái 26%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Gia H tại thời điểm giám định là 32%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích, các thương tích của anh Phạm Gia H do vật sắc nhọn gây ra”.

Sau khi bị Nguyễn Tuấn N dùng dao đâm, Nguyễn Đăng M được đưa vào viện cấp cứu trong tình trạng tỉnh, Glasgow 15 điểm, mạch 100 lần/phút, Hết áp 130/80mmHg, nhịp thở 25 lần/phút, da, niêm mạc hơi nhợt, có vết thương thành ngực trái, cánh tay trái, có tràn máu khoang màng phổi trái, rách cơ hoành, có biểu hiện thở nhanh, rối loạn Hết động, nếu không được cấp cứu kịp thời, tình trạng tràn máu, tràn khí trái có thể nặng lên, dẫn đến suy hô hấp cấp, rối loạn Hết động, sốc gây nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1123/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố Hà Nội đối với Nguyễn Đăng M, kết luận:

“... Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

“... Các kết quả chính: Hai vết thương cánh tay trái 04%; Vết thương - vết mổ lưng trái 03%; Vết mổ đặt dẫn lưu màng phổi trái 01%; Tổn thương màng phổi trái đã phẫu thuật 05%; Vết rách cơ hoành trái đã phẫu thuật khâu 21%; Mổ nội soi thăm dò ổ bụng 06%. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đăng M tại thời điểm giám định là 35%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Nguyễn Đăng M do vật sắc nhọn gây nên ”

Tại biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể do Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 17/7/2024, đối với Nguyễn Trung H có các dấu vết sau: 01 vết bầm đỏ (không chảy máu) kích thước khoảng 2x1cm ở khu vực trán bên trái; 01 vết bầm đỏ (không chảy máu) dài khoảng 2cm ở khu vực trán bên trái; 01 vết bầm đỏ (không chảy máu) dài khoảng 2cm ở khu vực đầu sau vành tai trái; Vùng vai phải (khu vực xương quai xanh) bị bầm đỏ, không chảy máu; 01 vết bầm tím kích thước khoảng 1x1cm ở lòng bàn tay phải (khu vực gần ngón út). Ngoài ra không phát hiện thương tích nào khác trên thân thể của Nguyễn Trung H liên quan đến sự việc trên. Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm đã quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Trung H. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ nên anh H từ chối giám định thương tích và không yêu cầu các bị can bồi thường dân sự.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn N về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự; đối với Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự và ngày 16/11/2024, Quyết định khởi tố bị can đối với Dương Khánh L về tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L có hành vi đánh Nguyễn Trung H, làm H bị thương phần mềm vùng trán, vai, tay. Do bị thương nhẹ nên H từ chối khám thương và giám định thương tích, không đề nghị xử lý đối với H, M, Hải, L và không yêu cầu bồi thường dân sự, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Trung H do bị Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L dùng tay, chân và ghế đánh gây thương tích nên H đã có hành vi dùng bàn đỡ, chống cự và bỏ chạy nên không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý H.

Đối với Nguyễn Hồng S, Phạm Sơn An, Ngô Tấn Tài, Ngô Phương L và Đặng Phương T là những người có mặt tại hiện trường nhưng không tham gia vào việc đuổi đánh Nguyễn Trung H nên không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý các đối tượng trên là có căn cứ.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra xác định chiếc xe máy hiệu Honda SH 160i màu đen, biển kiểm soát 29BD-039.10 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Sang A (sinh năm 1978; là mẹ của bị can Nguyễn Đăng M). Bà Sang A không biết M lấy chiếc xe máy trên để đi chơi nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Khánh L khai chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH (không xác định được biển kiểm soát) là do L mượn của một nam thanh niên (không rõ nhân thân) tên “Tý” ở quán Internet tại số nhà 260, phố Lĩnh Nam, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Sau khi chở N về nhà L đã đi xe máy về trả cho “Tý”. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác M tại địa điểm L mượn xe của người tên “Tý” nhưng không xác định được. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án.

Đối với Nguyễn Trung H, Phạm Sơn An và Dương Khánh L có hành vi điều khiển xe mô tô trên 50cm³ và dưới 175cm³ nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định; Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L và Nguyễn Hồng S là người điều khiển xe không đội mũ bảo hiểm, chở người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm; điều khiển xe chở theo 02 người trên xe. Tại Cơ quan điều tra, H cùng L và An khai ngày 16/7/2024, tự ý lấy xe của gia đình đi chơi. Bố, mẹ các đối tượng trên không biết và không giao xe cho các đối tượng trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã cHển văn bản và tài liệu liên quan đến hành vi của các đối tượng trên đến Công an quận Hoàn Kiếm để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với Đặng Phương T, Nguyễn Thanh H, Phạm Gia H, Ngô Phương L, Ngô Tấn Tài và Nguyễn Tuấn N có hành vi ngồi trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe mô tô trên 50cm³ và dưới 175cm³ nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định. Cơ quan điều tra đã cHển văn bản và tài liệu liên quan đến hành vi của các đối tượng trên đến Công an quận Hoàn Kiếm, để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Tuấn N khai nguồn gốc con dao bấm do N đặt mua trên mạng vào khoảng tháng 03/2024 với giá khoảng 200.000 đồng mang về cất giấu ở khu vực gác xép tầng 3 tại nhà số 931B, ngõ 931 đường Bạch Đằng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Ngày 16/7/2024, N đi chơi về muộn nên đã mang theo để phòng thân và đã sử dụng làm hung khí phạm tội.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại Phạm Gia H và Nguyễn Đăng M yêu cầu Nguyễn Tuấn N bồi thường mỗi gia đình 300.000.000 đồng gồm: tiền viện phí, tiền thuốc và tiền tổn thất về tinh thần và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSHN-P2 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a,n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Dương Khánh L về tội "Che giấu tội phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà ngày 12/6/2025, sau khi xét hỏi, Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 64/2025/HSST - QĐ để:

  1. Điều tra, làm rõ hành vi của Nguyễn Trung H có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” theo qui định tại Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, tránh bỏ lọt tội phạm.
  2. Xem xét, đánh giá lại hành vi của các bị cáo: Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đăng M và Phạm Gia H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015.

Ngày 30/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có phúc đáp số 1388/VKSHN – P2 với nội dung: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-P2 ngày 22/01/2025.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

  2. Về hình phạt:

    - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt Nguyễn Đăng M 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 102; Điều 57; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Phạm Gia H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Trần Xuân L 20 (hai mươi) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn N, Dương Khánh L; quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 21/8/2025, người bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm liên quan đến tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là không đúng, không chính xác, không cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Ngày 26/8/2025, các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H đều kháng cáo xin giảm hình phạt và xin miễn trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Nguyễn Đăng M thay đổi nội dung kháng cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H ủy quyền cho Luật sư Phạm Thư nêu nội dung kháng cáo. Cụ thể :

Tại bản án sơ thẩm đã áp dụng và xử phạt các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 319 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “dùng hung khí...” và tiếp nhận ý chí của nhau là không đúng. Các bị cáo phạm tội đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về một hành vi vượt quá của người thực hiện vì các bị cáo không bàn bạc, chuẩn bị trước. Từ đó cần phải cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Do vậy nếu xử lý trách nhiệm hình sự thì các bị cáo chỉ phải chịu theo khoản 1 Điều 319 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên để miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Lý do: Các bị cáo H, L, Hải khi phạm tội đều dưới 18 tuổi; tuy L có dùng chiếc ghế sắt nhỏ nhưng ném về phía H nhưng không trúng chứ không phải L dùng ghế để đập vào người H. Bị cáo M và bị cáo H còn là bị hại trong vụ án “Giết người” do bị cáo N gây ra. Đề nghị áp dụng chế định cHển hướng để giáo dục đối với người dưới 16 tuổi hoặc áp dụng hình phạt khiển trách để giáo dục tại địa phương; đề nghị áp dụng cảnh cáo đối với bị cáo M vì không có hành vi giúp sức cho các bị cáo khác.

Bị cáo Nguyễn Đăng M ủy quyền cho các Luật sư nêu nội dung kháng cáo. Cụ thể: Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để được tiếp tục đi học, bị cáo đang là sinh viên năm thứ 3 Khoa Quốc Tế của Đại học Quốc Gia; các bị cáo không bàn bạc từ trước, không có ý thức giải quyết mâu thuẫn với H mà phạm tội do bột phát xuất phát từ hành vi của bị cáo H đối với H trong lúc đi chơi cùng nhóm bạn; quá trình điều tra cũng như xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; bản thân bị cáo còn bị N đâm gây thương tích 35% sức khỏe; nay có thêm tình tiết mới mẹ của bị cáo bị ung thư tuyến giáp mới được phát hiện trong tháng 9/2025. Đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để vừa được tiếp tục học tập vừa có điều kiện chăm sóc mẹ của bị cáo.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của các bị cáo, kết luận: Các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” như thể hiện tại bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, không oan. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo và đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo H, L, Hải, M không xuất trình tài liệu mới làm căn cứ; đề nghị áp dụng Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bốn bị cáo.

Luật sư Phạm Thư bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H đề nghị: Vụ án xuất phát từ mâu thuẫn giữa H với bị cáo M chứ không phải mâu thuẫn với H; sự việc xảy ra quá nhanh chỉ khoảng 30 giây do bột phát và có kìm chế khi có người hô hào “Công an đến” thì các bị cáo bỏ chạy ngay, không có hành vi đập phá gì, L có hành vi dùng ghế của quán cà phê nhưng chỉ là để tự vệ; điều này thể hiện rõ khi thực nghiệm điều tra. Do đó chỉ cần áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo mới đúng; khi xét xử tại bản án sơ thẩm chưa các thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đề nghị xử phạt các bị cáo loại hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục.

Luật sư Nguyễn Thanh Tú bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H đề nghị: Các bị cáo đều là người chưa thành niên, phạm tội lần đầu, đều đang là sinh viên tuy chưa có tài liệu nộp bổ sung, sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục.

Luật sư Lê Văn Tú và Luật sư Bùi Văn Trường bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng M giữ nguyên nội dung như đã nêu tại phần nội dung kháng cáo. đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Nguyễn Thanh H, Trần Xuân L và kháng cáo của người bào chữa của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L trong thời hạn, đúng quy định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không có người tham gia tố tụng nào kH nại về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng, nên các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L và người bào chữa cho các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới.

Bị cáo Nguyễn Đăng M nộp thêm tài liệu là bệnh án về việc mẹ của bị cáo là bà Phạm Thị Sang A mới có kết luận bị ung thư tuyến giáp vào tháng 9/2025. Các tài liệu được thẩm vấn, tranh tụng công khai tại phiên tòa.

[2] Về nội dung, xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H và Nguyễn Đăng M đều tiếp tục xác nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định, không oan sai. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo, lời khai của người bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 16/7/2024, Nguyễn Trung H điều khiển xe máy hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 29H2-499.58 chở Đặng Phương T cùng với Dương Khánh L điều khiển xe máy hiệu Honda SH (không xác định được biển kiểm soát) chở Nguyễn Tuấn N đi trên nhiều tuyến phố của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Khi xe của H chở T đi đến phố Thi Sách, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng thì gặp nhóm Phạm Sơn An điều khiển xe máy hiệu Honda SH, biển kiểm soát 29L1-976.52 chở Nguyễn Thanh H ngồi giữa và Phạm Gia H ngồi sau; Nguyễn Đăng M điều khiển xe máy hiệu Honda SH, biển kiểm soát 29BD-039.10 chở Ngô Phương L; Trần Xuân L điều khiển xe máy hiệu Honda Vison không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Hồng S ngồi giữa và Ngô Tấn Tài ngồi sau. Do H và H phát sinh mâu thẫu trong quá trình di cHển nên H và nhóm H đã dừng xe tại trước khu vực số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Tại đây, H xuống xe lao vào dùng chân, tay đánh H. H chống trả nhưng không được nên bỏ chạy thì H và Hải đuổi đánh đến trước cửa quán Cafe của chị Nguyễn Thị Hền Trang và chị Nguyễn Diệu L ở số nhà 23, phố Trần Hưng Đạo thì H chạy lên vỉa hè quán cafe lấy chiếc bàn gấp màu đen bằng kim loại ở cửa quán giơ lên đỡ, dọa và đuổi theo nhóm H, rồi H vứt chiếc bàn xuống đất, thì bị M, Hải và L lao vào đánh. Cùng lúc này, xe của L chở N đi đến thấy H bị đánh, N bảo L dừng xe. N xuống xe tay phải rút trong túi quần đằng sau bên phải ra 01 con dao bấm mũi nhọn, lưỡi sắc đâm 01 nhát theo hướng từ phải sang trái trúng vào phần sườn trái của H. Đâm xong, N cầm dao chạy về phía M đâm liên tiếp 02 nhát trúng bắp dưới tay trái và sườn trái của M làm M nằm gục xuống đất. N cầm dao bỏ chạy lên xe của L rời khỏi hiện trường. L thấy N cầm dao và mũi dao có dính máu nên hỏi nhưng N không nói gì mà bảo L chở N về nhà và dặn không được nói sự việc trên cho người khác biết.

Hậu quả, do được cấp cứu kịp thời nên Nguyễn Đăng M và Phạm Gia H không tử vong. Nguyễn Đăng M bị thương tích tổn hại 35% sức khỏe và Phạm Gia H bị thương tích 32% sức khỏe. Nguyễn Trung H bị thương nhẹ nên đã từ chối giám định thương tích.

[2.2] Tại bản án sơ thẩm đã xác định các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L, Nguyễn Thanh H là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng; có tính chất đồng phạm giản đơn; các bị cáo mặc dù không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể từ trước, nhưng khi đang đi cùng nhau thấy H dừng lại đánh nhau với H, các bị cáo M, L, Hải tiếp nhận ý chí của H cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo H. Trong đó, bị cáo Phạm Gia H là người giữ vai trò chính bởi nguyên nhân xảy ra vụ án xuất phát từ mâu giữa Phạm Gia H và Nguyễn Trung H.

Các bị cáo M, L, Hải tiếp nhận ý chí của H đã xông vào đấm đá, đánh nhau với H, L dùng ghế sắt bên quán trên đường ném H làm gây mất trật tự, náo loạn đường phố. Các bị cáo đồng phạm, tiếp nhận ý chí của nhau và đều phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Đăng M, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với tình tiết “dùng hung khí” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quan điểm của Luật sư Phạm Thư bào chữa cho các bị cáo H, L, Hải về việc các bị cáo chỉ phạm tội với tình tiết định khung theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Các bị cáo H, M, L, Hải đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, chưa tiền án, tiền sự, các bị cáo H, Hải, L là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa đầy đủ nên phạm tội, đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Do đó, tại bản án sơ thẩm đã quyết định phạt bị cáo H và Hải mỗi bị cáo 18 tháng tù; bị cáo L 20 tháng tù, bị cáo M 30 tháng tù là phù hợp trong tình hình loại tội phạm này đang gia tăng trên địa bàn.

[2.3] Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình các bị cáo cùng nhau đi chơi, tuy bị cáo M và H trước đó có mâu thuẫn; nhưng khi H chỉ và nói với M là “Thằng H kìa” thì chính M là người nói “Kệ nó đi”; sau đó thì quá trình di cHển bị cáo H và H mới phát sinh hành động vẫy nhau vào lề đường để nói cHện. Khi dừng xe, ngay lập tức H là người lao vào đánh H, Hải cũng lao vào đánh H gây nên náo loạn đường phố. Từ đó dẫn đến hành vi của bị cáo N thấy H bị H, Hải, L và M đánh đã lao vào dùng dao đấm H và M nên N phạm tội “Giết người” và các bị cáo H, Hải, L, M đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” như bản án sơ thẩm đã xác định. Bị cáo Trần Xuân L là người dùng chiếc ghế sắt đuổi ném H nên các bị cáo phải chịu tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” như bản án sơ thẩm đã quy kết là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị các hoàn toàn thừa nhận hành vi như trên và không có thêm tình tiết, tài liệu gì mới. Do xác định vai trò của bị cáo Phạm Gia H là nguyên nhân dẫn đến vụ án, bị cáo Nguyễn Thanh H là đồng phạm tích cực sau H dù không biết giữa H và H có mâu thuẫn gì hay không nhưng khi thấy H dừng xe lao vào đánh H thì ngay lập tức xông vào đánh H khiến H phải dùng chiếc bàn sắt chống đỡ; bị cáo Trần Xuân L khi dừng xe đã lấy chiếc ghế sắt đuổi và ném H. Do đó xác định các bị cáo tuổi đời còn chưa thành niên, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nhưng đã có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội ngay cả khi không vì mâu thuẫn, khúc mắc của bản thân. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của cả ba bị cáo cũng như luận cứ của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm mới có tác dụng giáo dục dối với các bị cáo này.

[2.4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng M, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có ý thức phạm tội. Tuy bị cáo M là người có khúc mắc với H nhưng khi H chỉ H cho M thì M đã nói “Kệ nó” và điều khiển xe máy đi tiếp; việc H và H tiếp tục có lời nói với nhau M không biết. Việc M thấy H, Hải, H đuổi đánh nhau thì M dùng tay ngăn cản và lúc đó chỉ dùng tay đấm hai cái vào cánh tay phải của H. Như vậy M không có ý thức, hành vi ẩu đả với H gây mất trật tự, hành vi có mức độ, không liên quan đến việc L dùng bàn sắt ném về phía H. Bị cáo đang là sinh viên trường Đại học Quốc gia; quá trình điều tra đã thành khẩn khai nhận hành vi, bản thân bị N đâm gây thương tích 35% từ nguyên nhân H đánh nhau với H; nay mẹ bị cáo mới phát hiện và có kết luận bị bệnh ung thư tuyến giáp. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, luận cứ của các Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, áp dụng tính nhân đạo của pháp luật cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục học tập cũng đủ giáo dục đối với bị cáo và phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo.

[3] Quan điểm của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí: Các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H, Trần Xuân L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Đăng M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5]. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H, Trần Xuân L và kháng cáo của người bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia H, Nguyễn Thanh H và Trần Xuân L; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

    Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 102; Điều 57; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Phạm Gia H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Xử phạt: Trần Xuân L 20 (hai mươi) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Xử phạt: Nguyễn Thanh H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng M; Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 564/2025/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt Nguyễn Đăng M 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 14/11/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Đăng M cho chính quyền nơi cư trú là Ủy ban nhân dân phường Kim Liên, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm N vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Các bị cáo Phạm Gia H, Trần Xuân L và Nguyễn Thanh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Đăng M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VCT&KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - THADS TP Hà Nội;
  • - CQTHAHS CA TP Hà Nội;
  • - Các bị cáo (theo địa chỉ);
  • - UBND phường Kim Liên, TP Hà Nội (để giám sát, giáo dục đ/v bị cáo M);
  • - Người tham gia tố tụng khác (theo đ/c);
  • - Lưu HSVA, VPTPT./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Đ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 480/2025/HS-PT ngày 14/11/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 480/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger