Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt, ông Đoàn Văn Cương
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, Quyết định hoãn phiên toà số 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Thúy H, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Phùng Thị Thúy H trình bày: Chị kết hôn với anh Đặng Văn Q vào ngày 16/06/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.

Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến xảy ra cãi vã, xô sát. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2017, không quan tâm tới nhau nữa. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh Q nên chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Đặng Thị Thùy A, sinh ngày 05/9/2017. Hiện cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng với chị. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Bản thân chị có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con nên chị không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đặng Văn Q trình bày: Anh kết hôn với chị Phùng Thị Thúy H vào ngày 16/06/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.

Từ tháng 11/2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ tại thị trấn B, huyện H để ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi liên lạc từ thời điểm đó cho tới nay. Anh xác định giữa vợ chồng không còn tình cảm, chị H xin ly hôn, anh nhất trí.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Đặng Thị Thùy A, sinh ngày 05/9/2017. Hiện cháu Thùy A đang ở cùng với chị H. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Phùng Thị Thúy H xin vắng mặt tại phiên toà; bị đơn anh Đặng Văn Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị H được ly hôn anh Q; Về con chung: Giao con chung Đặng Thị Thùy A, sinh ngày 05/9/2017 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

  1. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phùng Thị Thúy H làm đơn khởi kiện ly hôn anh Đặng Văn Q, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
  3. Sự vắng mặt của các đương sự: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Q đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh Q đăng ký kết hôn ngày 16/6/2017 tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân giữa chị H và anh Q là hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị H xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng qaun điểm đẫn đến xảy ra cãi vã, xô sát; vợ chồng đã ly thân nhau được một thời gian dài (từ tháng 11/2017 đến nay), không còn quan tâm tới nhau. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

HĐXX thấy chị H và anh Q đều xác định giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân một khoảng thời gian dài (từ tháng 7/2017 đến nay), không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị H được ly hôn anh Q.

  1. Về quan hệ con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là Đặng Thị Thùy A, sinh ngày 05/9/2017. Chị H, anh Q đều có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. HĐXX thấy rằng: Chị H có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện nuôi con; thời điểm vợ chồng sống ly thân, chị H đưa theo cháu Thùy A về nhà mẹ đẻ để ở từ đó cho đến nay, cuộc sống và việc học tập của cháu Thùy A đều đã ổn định. Do đó, cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử :

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị Thúy H ly hôn anh Đặng Văn Q.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đặng Thị Thùy A, sinh ngày 05/9/2017 cho chị Phùng Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Đặng Văn Q không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đặng Văn Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh Q thực hiện quyền này.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Phùng Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007 398 ngày 22/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Nghĩa Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger