|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày 31 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương.
Bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
ĐÀO VĂN TUYÊN, sinh năm 1963; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: SỐ D Đ, phường N, thị xã S, TP .; Nơi ở hiện tại: Ngõ D phố Q, thị xã S, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đào Văn C, sinh năm 1936; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1942; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Con: Có 04 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 30/11/2011, bị Công an phường T, thị xã S xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
- + Năm 1999, bị TAND thị xã Sơn Tây xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thạch 24 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
- + Năm 2013, bị TAND huyện Ba Vì xử phạt 09 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Anh B, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thế C1, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, TP .;
Địa chỉ: T, phường V, thị xã S, TP .;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn T là người nghiện ma tuý từ năm 2012, loại ma tuý hiện nay T sử dụng là ma tuý đá. Sáng ngày 07/01/2024, Đào Văn T đã đi ra khu vực bến xe S để tìm người bán ma tuý với mục đích mua ma tuý về để sử dụng, ngoài ra nếu ai hỏi mua thì sẽ bán lại kiếm lời. Tại đây, Đào Văn T gặp và mua được 01 gói ma tuý đá của một người đàn ông T không rõ tên tuổi địa chỉ với số tiền 10.000.000đ. Sau khi mua được ma tuý, Đào Văn T mang về nhà chia ra được 10 gói (kích thước khoảng 02 x 2,5 cm) và 20 gói nhỏ (kích thước khoảng 01 x 1,5 cm). Đào Văn T đã sử dụng hết 02 gói, số ma tuý còn lại Đào Văn T cất giấu ở đầu giường trong phòng ngủ của Đào Văn T. Khoảng hơn 20 giờ ngày 09/01/2024, Đào Văn T đang ở nhà tại Ngõ D, Quang T1 cùng con trai là Đào Văn T2 và bạn gái là Nịnh Thị H1. Con trai Đào Văn T lúc này đứng ở cửa ra vào còn bạn gái Đào Văn T đang rửa hoa quả tại vòi nước trong phòng khách, thì có 02 người bạn của Đào Văn T là Nguyễn Anh B và Khuất Đình N1 (Sinh năm: 2002, HKTT: Thôn F, T, P, Hà Nội) đến nhà. B đi vào nhà hỏi Đào Văn T có ma tuý đá không bán cho B 300.000đ và để số tiền 300.000₫ xuống bàn uống nước tại phòng khách. Đào Văn T đồng ý và bảo B để tiền ở đó rồi đi cùng Đào Văn T vào trong phòng ngủ để “sẻ hàng” (Đào Văn T chia ma tuý đá bán cho B). Tuy nhiên, Đào Văn T và B chưa đi vào phòng ngủ thì có Nguyễn Thế C1 (sinh năm: 2000, HKTT: Tiền H, V, S, Hà Nội) đến hỏi Đào Văn T bán cho C1 01 gói ma tuý đá giá 500.000₫ (C1 chưa trả tiền). Đào Văn T đồng ý và nói B và C1 vào phòng để T chia ma tuý bán cho hai người này. Khi đó, con trai, bạn gái Đào Văn T và anh N1 đều đang ở ngoài phòng khách. Vào phòng, Đào Văn T ngồi ở đầu giường để số ma tuý đá có sẵn đã được đóng vào các gói nilong trước đó ra rồi lấy 01 con dao gọt hoa quả để chia ma tuý nhằm bán cho 02 người này thì đúng lúc đó có tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công an thị xã S phối hợp với Công an phường Q tới yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tổ công tác Công an phường Q và Công an thị xã S đã lập biên bản bắt quả tang đối với Đào Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Văn T và thu toàn bộ tang vật liên quan sau đó đưa toàn bộ những người liên quan về trụ sở làm việc.
Thu giữ vật chứng khi bắt quả tang gồm:
- - T3 tại đầu giường ngủ của T :
- + 19 gói nilong kích thước 1x1,5 cm, 08 gói kích thước 2x2,5cm đều có viền mép màu xanh và chứa tinh thể màu trắng (Niêm phong Ký hiệu M1).
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, loại cảm ứng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra. IMEI 1 :869008061123777, IMEI 2: 869008061123769 thu của T.
- + Số tiền 300.000đ thu trên mặt bàn uống nước trong phòng khách. B khai đây là tiền B dùng để mua ma túy của T.
- + Số tiền 500.000đ thu tại túi quần sau bên phải C1 đang mặc trên người. C1 khai đây là tiền chuẩn bị dùng để mua ma túy của T.
- - 01 dao kim loại chiều dài 15cm, cán màu vàng - nâu phần lưỡi dao dài 7cm, phần cán dài 8cm bên trên không có gì thu trên tay phải của Đào Văn T. T khai đây là vật dụng chuẩn bị dùng để chia ma túy.
Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp gồm :
- - Thu giữ tại phòng khách :
- + 01 gói nilong chứa tinh thể kích thước 1x1.5cm thu tại nền nhà khu vực bàn uống nước. T khai đây là ma túy đá của T (Niêm phong ký hiệu M2).
- +05 gói nilong kích thước 2x2,5cm và có 05 gói 1x1,5cm đều có viền mép màu xanh bên trong không có gì. T khai đây là gói nilong dùng để T chia ma túy.
- + 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng bên trên không có gì.
- - T3 tại phòng ngủ: 02 cóong thủy tinh bên trong không có gì.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an T đã ra quyết định trưng cầu giám định số 85 - QĐ/ĐCSMT trưng cầu Phòng K - Công an T4 giám định toàn bộ số mẫu vật đã thu giữ nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 717/KLGÐ - PC09 ngày 19/01/2024 của Phòng KTHS - Công an T4 kết luận:
- “- Tinh thể màu trắng bên trong 27 gói nilong đều có viền mép xanh (Ký hiệu M1) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 8,177 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong có viền mép xanh (Ký hiệu M2) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,238 gam”./.
Tại Cơ quan điều tra, Bị can Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý tại khu vực Bến xe S cho Đào Văn T. Do T mới gặp người này lần đầu, không rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.
Đối với Đào Văn T2 và Nịnh Thị H1, cả hai người này không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý.
Đối với Khuất Đình N1. Do B nhờ N1 đưa đến nhà T. Nghị không biết mục đích của T và không liên quan đến việc Mua bán trái phép chất ma tuý giữa T và B nên Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý.
Đối với Nguyễn Anh B và Nguyễn Thế C1 là người đã đến hỏi mua ma tuý của T. Tuy nhiên, cả hai đều chưa nhận được ma tuý, Đào Văn T chưa nhận số tiền mà B và C1 mang tới. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý trong nước tiểu thể hiện kết quả âm tính, quá trình làm việc cả hai đều đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý.
Vật chứng vụ án:
- - 02 phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu M1, M2), bên ngoài có chữ ký của đối tượng Đào Văn T, chữ ký của đồng chí Nguyễn Đức C2 cán bộ đội CSĐTTP về ma túy C thị xã S; chữ ký của đồng chí Lê Khắc N2 – giám định viên phòng KTHS, Công an T4.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, loại cảm ứng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra; Imei 1: 869008061123777; Imei 2: 869008061123769.
- - 05 gói nilong trong suốt có kích thước 2x2,5 cm; 05 gói nilong trong suốt kích thước 1x1,5 cm đều có viền mép màu xanh, bên trong không có gì;
- - 02 cóong thủy tinh bên trong không có gì
- - 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng,bên trên không có gì.
- - 01 dao kim loại chiều dài 15 cm, cán màu vàng - cam. Phần chuôi dài 08 cm, phần lưỡi dao dài 07 cm và số tiền 800.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây đã truy tố bị cáo Đào Văn T ra trước Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, i khoản 2 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đào Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 251 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i,c khoản 2 Điều 251, khoản s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt Đào Văn T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu M1, M2), bên ngoài có chữ ký của đối tượng Đào Văn T, chữ ký của đồng chí Nguyễn Đức C2 – cán bộ đội CSĐTTP về ma túy C thị xã S; chữ ký của đồng chí Lê Khắc N2 – giám định viên phòng KTHS, Công an T4. 05 gói nilong trong suốt có kích thước 2x2,5 cm; 05 gói nilong trong suốt kích thước 1x1,5 cm đều có viền mép màu xanh, bên trong không có gì; 02 cóong thủy tinh bên trong không có gì; 01 dao kim loại chiều dài 15 cm, cán màu vàng -cam. Phần chuôi dài 08 cm, phần lưỡi dao dài 07 cm; 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng bên trên không có gì.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước : Số tiền 800.000 đồng;
- Trả lại cho bị cáo Đào Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, loại cảm ứng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra; Imei 1: 869008061123777; Imei 2: 869008061123769.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Đào Văn T nhận thấy:
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, đã từng bị xử lý hình sự về tội phạm liên quan đến ma túy, có nhân thân xấu nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng, cải tạo bị cáo có ý thức chấp hành tốt pháp luật và phòng ngừa chung.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đào Văn T không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định, có tiền sử tai biến mạch máu não nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [5] Về xử lý vật chứng:
- [6] Về án phí: Do bị cáo trên 60 tuổi nên HĐXX áp dụng Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 09/01/2024 tại nhà của Đào Văn T ở ngõ D, Q, phường Q, thị xã S, H2), Đào Văn T (có hành vi chuẩn bị bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Anh B và Nguyễn Thế C1 thì bị bắt quả tang. Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của T, cơ quan Công an thu giữ tổng cộng 8,415 gam ma túy Methamphetamine. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đào Văn T phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Đào Văn T là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với Đối với người đàn ông đã bán ma tuý tại khu vực Bến xe S cho Đào Văn T. Do T mới gặp người này lần đầu, không rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh nên HĐXX không xem xét.
Đối với Đào Văn T2 và Nịnh Thị H1, cả hai người này không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T, Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý nên HĐXX không xem xét.
Đối với Khuất Đình N1: Do B nhờ N1 đưa đến nhà T. Nghị không biết mục đích của T và không liên quan đến việc Mua bán trái phép chất ma tuý giữa T và B, Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý nên HĐXX không xem xét.
Đối với Nguyễn Anh B và Nguyễn Thế C1 là người đã đến hỏi mua ma tuý của T. Tuy nhiên, cả hai đều chưa nhận được ma tuý, Đào Văn T chưa nhận số tiền mà B và C1 mang tới. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý trong nước tiểu thể hiện kết quả âm tính, quá trình làm việc cả hai đều đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân. Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý nên HĐXX không xem xét.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với ma túy bên trong 02 phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu M1, M2), bên ngoài có chữ ký của đối tượng Đào Văn T, chữ ký của đồng chí Nguyễn Đức C2 – cán bộ đội CSĐTTP về ma túy C thị xã S; chữ ký của đồng chí Lê Khắc N2 – giám định viên phòng KTHS, Công an T4 là vật cấm lưu thông; 05 gói nilong trong suốt có kích thước 2x2,5 cm; 05 gói nilong trong suốt kích thước 1x1,5 cm đều có viền mép màu xanh, bên trong không có gì; 02 cóong thủy tinh bên trong không có gì; 01 dao kim loại chiều dài 15 cm, cán màu vàng -cam. Phần chuôi dài 08 cm, phần lưỡi dao dài 07 cm; 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng bên trên không có gì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 800.000 đồng là phương tiện bị cáo và Nguyễn Anh B và Nguyễn Thế C1 sử dụng mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, loại cảm ứng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra; Imei 1: 869008061123777; Imei 2: 869008061123769 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Áp dụng điểm i, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đào Văn T: 09 (C3) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/01/2024.
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu M1, M2), bên ngoài có chữ ký của đối tượng Đào Văn T, chữ ký của đồng chí Nguyễn Đức C2 – cán bộ đội CSĐTTP về ma túy C thị xã S; chữ ký của đồng chí Lê Khắc N2 – giám định viên phòng KTHS, Công an T4 là vật cấm lưu thông; 05 gói nilong trong suốt có kích thước 2x2,5 cm; 05 gói nilong trong suốt kích thước 1x1,5 cm đều có viền mép màu xanh, bên trong không có gì; 02 cóong thủy tinh bên trong không có gì; 01 dao kim loại chiều dài 15 cm, cán màu vàng -cam. Phần chuôi dài 08 cm, phần lưỡi dao dài 07 cm; 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng bên trên không có gì.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng.
Trả lại bị cáo Đào Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, loại cảm ứng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra; Imei 1: 869008061123777; Imei 2: 869008061123769;
(Theo Ủy nhiệm chi số 37 ngày 24/4/2024 của Công an thị xã S nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP . tại Kho bạc Nhà nước thị xã S; Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án hình sự Công an thị xã S)
Nơi nhận:
- - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện KSND TX Sơn Tây;
- - Công an TX Sơn Tây;
- - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Đức Ngọc |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bc T mua bán trái phép chất ma túy
