Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-5-2024

V/v: “Ly hôn, con chung giữa chị Yến

và anh Quân"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Đại

Ông Trần Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Quê quán: Phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

Nơi ở hiện nay đang cư trú và lao động tại Đài Loan;

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1978; Nơi thường trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định;

(Tại phiên tòa có mặt chị Nguyễn Thị Y, vắng mặt anh Vũ Văn Q có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 7 năm 2023, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y kết hôn với anh Vũ Văn Q trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 18-7-2011 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn chị Y và anh Q sống hoà thuận hạnh phúc. Đến cuối năm 2021 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và tính tình không hoà hợp nhau, làm cho tình cảm vợ chồng không còn như trước. Khi con chung được hơn một tuổi vợ chồng bắt đầu sống ly thân cho đến nay. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống vợ chồng không có tiến triển, đến nay tình cảm ngày càng lạnh nhạt và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc nên chị Y đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Q theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị Y có một con chung cháu Vũ Hoàng M, sinh ngày 27-01-2012, hiện nay con chung đang ở cùng anh Q tại nhà bố mẹ đẻ anh ở xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn chị Y đề nghị Toà án giao cháu Vũ Hoàng M cho anh Vũ Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chị sẽ tự thoả thuận việc cấp dưỡng nuôi con với anh Q.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Nguyễn Thị Y trình bày vợ chồng chị không có tài sản gì chung, không có công nợ chung nên chị không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 4 năm 2024 bị đơn anh Vũ Văn Q trình bày: Do sức khoẻ của anh Q yếu, anh đề nghị Toà án ghi lại lời khai của anh. Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Y trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G ngày 18-7-2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh tại xóm D (nay là xóm T), xã G, huyện G, vợ chồng đều làm nghề lao động tự do, làm ăn tại Hà Nội và ở quê nhà. Thời gian đầu vẫn sinh sống hoà thuận bình thường và chị Y đã sinh một con chung, cách đây khoảng 5 năm chị Y về quê làm nghề kinh doanh buôn bán hải sản, anh nghe nói chị Y có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Cách đây một năm chị Y đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng đã sống ly thân cách đây 5 năm từ khi chị Y bỏ về quê sống. Nay chị Y làm đơn xin ly hôn, quan điểm của anh Q nhất trí ly hôn để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh Q có một con chung cháu Vũ Hoàng M, sinh ngày 27-01-2012, hiện nay con chung đang học lớp 6 Trường trung học cơ sở xã G, cháu đang sống cùng anh Q và bố mẹ đẻ anh tại xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn anh Q có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và yêu cầu chị Y phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh là 3.000.000đ/1 tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, tự nuôi sống bản thân.

Về tài sản chung: Hiện nay tại địa phương vợ chồng anh không có tài sản gì chung, vẫn còn ở nhờ nhà của bố mẹ đẻ anh. Vợ chồng anh Q không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ. Khi ly hôn về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng anh Q không có gì nên anh không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết. Anh Q xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, phiên họp, phiên toà xét xử của Toà án.

Tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị Y vẫn giữ nguyên ý kiến xin được ly hôn với anh Q, chị Y đồng ý để cho anh Q nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị nhận sẽ có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q ở mức 2.000.000đ/1 tháng. Anh Vũ Văn Q vắng mặt có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171, Điều 175, Điều 177, Điều 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q. Con chung đề nghị giao cháu Vũ Hoàng M, sinh ngày 27-01-2012 cho anh Vũ Văn Q nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Y phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q 2.000.000đ/1 tháng, chị Y được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của chị Y, anh Q không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Anh Vũ Văn Q đã có ý kiến xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, phiên họp, phiên toà xét xử của Toà án nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 7 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.
  3. [3] Trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Y để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  4. [4] Vợ chồng chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q có một con chung cháu Vũ Hoàng M, sinh ngày 27-01-2012. Hiện nay con chung đang do anh Q nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn, anh Q có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh Q yêu cầu chị Y phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung ở mức 3.000.000đ/1 tháng đến khi con chung trưởng thành, chị Nguyễn Thị Y cũng đồng ý để anh Q nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị Y nhận sẽ có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q ở mức 2.000.000đ/1 tháng.
  5. [5] Xét nguyện vọng của anh Vũ Văn Q trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Vũ Hoàng M đang do anh Q và gia đình anh nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi vợ chồng chị Y, anh Q sống ly thân và sau đó chị Y đi cư trú và làm việc tại Đài Loan cho đến nay, cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, tại phiên toà hôm nay chị Y trình bày hiện nay chị vẫn đang còn thời hạn của hợp đồng lao động tại Đài Loan, chị chỉ xin nghỉ phép mấy tháng để về giải quyết thủ tục ly hôn với anh Q, chị vẫn đang làm ăn ở xa nhà không có điều kiện để chăm sóc con chung. Khi ly hôn chị Y cũng đồng ý giao con chung cho anh Q nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu M trưởng thành. Xét thấy, con chung của vợ chồng chị Y, anh Q hiện nay còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Vũ Hoàng M cho anh Q tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
  6. [6] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Văn Q cầu chị Y phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/1 tháng đến khi con chung trưởng thành, tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị Y trình bày sẽ có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q với mức 2.000.000đ/1 tháng. Xét thấy, hiện nay giữa chị Y và anh Q chưa thoả thuận được với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con chung, anh Q lại xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên giữa hai bên không có điều kiện để thương lượng hoà giải với nhau, mức cấp dưỡng anh Q yêu cầu chị Y đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/1 tháng là không phù hợp với mức thu nhập của chị Y hiện nay nên không được chấp nhận. Do đó, cần buộc chị Y phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q mỗi tháng ở mức là 2.000.000đ như chị Y tự nhận, kể từ tháng 6 năm 2024 đến khi con chung đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được là phù hợp.
  7. [7] Về tài sản chung và công nợ: Chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung nên chị Y, anh Q không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết nên về phần tài sản chung và công nợ của vợ chồng chị Y, anh Q Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
  8. [8] Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị Y phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn Q.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Vũ Hoàng M, sinh ngày 27-01-2012 cho anh Vũ Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Nguyễn Thị Y phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/một tháng kể từ tháng 6 năm 2024 đến khi con chung đến tuổi trưởng thành và tự lập được. Chị Y có quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005693 ngày 09-01-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị Nguyễn Thị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Giao Hương;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger