|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-5-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Dung
- Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXX-ST ngày 23/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Anh Ngô Văn D; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong Đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D kết hôn với nhau do tự nguyện, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục, đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Phong, huyện An Dương năm 2000. Quá trình chung sống đôi bên xảy ra mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra bất hòa. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, đã sống ly thân. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh D.
Về con chung: Chị H và anh D có hai chung là Ngô Thúy H sinh năm 2000 và Ngô Thúy H sinh năm 2006. Các con đã trưởng thành có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Ngô Văn D trình bày: Thống nhất với trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân và tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng; thời điểm vợ chồng ly thân là từ tháng 7/2019 cho đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn. Vợ chồng có con chung như chị H trình bày, nhưng các con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên anh không yêu cầu giải quyết. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nhưng anh có quan điểm sau khi ly hôn hai bên phải có trách trả nợ bố mẹ đẻ anh số tiền 120.000.000 đồng đã vay làm móng nhà. Trường hợp chị H không tự nguyện trả, anh sẽ làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết sau.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Ngô Văn D; nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
- [1] Về thẩm quyền: Bị đơn cư trú tại huyện An Dương nên Tòa án nhân dân huyện An Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh D được Ủy hain nhân dân xã Hồng Phong, huyện An Dương cấp chứng nhận kết hôn số 25 ngày 28/4/2000 nên hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do không hòa hợp về tính cách, bất đồng quan điểm sống và từ tháng 7/2019 đến nay sống ly thân nhau. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên đã trầm trọng, thỏa mãn những căn cứ cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
- [4] Về con chung: Chị H và anh D có hai con như chị H trình bày ở trên là đúng. Các con đã trưởng thành, có khả năng lao động không bên nào yêu cầu nên không giải quyết.
- [5] Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 147 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Ngô Văn D.
Về tài sản chung: Chị H, anh D không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 8386 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương. Chị H đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |
3
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
