|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 31-5-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Ken
Bà Nguyễn Thị Anh Đào
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn Hữu C, sinh ngày 28/01/1984, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Thợ hớt tóc.; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L (đã chết) và bà Lư Thị T, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, vào ngày 02/02/2022 có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an xã M, huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 07/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2022 với số tiền 1.500.000 đồng (chưa chấp hành nộp phạt và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính lần nào khác; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 13/12/2023 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 27/4/2024; có mặt.
- Bị cáo Nguyễn Minh T1, sinh ngày 02/9/1984, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1947 và bà Hồ Thị B, sinh năm 1949; bị cáo có vợ tên Lê Thị N, sinh năm 1982 và 02 người con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự, vào ngày 13/8/2023 có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 111/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2023 với số tiền 1.500.000 đồng (chấp hành nộp phạt vào ngày 05/9/2023 nhưng chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: Ngày 13/01/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang kết án về tội hủy hoại tài sản với mức hình phạt cải tạo không giam giữ 12 tháng theo bản án hình sự số 10/HSST, ngày 16/5/2003 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (đã xóa án tích); Bị cáo bị khởi tố vào ngày 13/12/2023 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 27/4/2024; có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Kim Thanh N1, sinh năm 1997. Nơi cư trú ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Ông Lê Minh T2, sinh năm 1990. Nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nhận được nguồn tin báo của Quần chúng nhân dân có các đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đá gà cá cược thắng thua bằng tiền tại khu vực đất trống thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02/12/2023, Công an huyện T tiến hành kiểm tra, phát hiện các đối tượng đang tham gia đánh bạc gồm: Bị cáo Nguyễn Hữu C, bị cáo Nguyễn Minh T1 và Kim Thanh N1, sinh ngày 18/10/1997 nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên mời về trụ sở Công an làm việc, cụ thể như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 02/12/2023, bị cáo C đến quán C1 thuộc thị trấn C, tỉnh Trà Vinh để uống cà phê cùng với bị cáo T1. Tại đây, bị cáo C gọi điện thoại hỏi ông N1 có gà trống đá trọng lượng 2,7kg để đá cá cược thắng thua bằng tiền không, ông N1 đồng ý và trả lời là có, đồng thời hẹn bị cáo C đến khu vực đất trống thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh để đá cá cược với nhau. Sau đó, bị cáo C và bị cáo T1 thuê xe ôm đến huyện T, bị cáo C mang theo một con gà trống có đặc điểm màu lông vàng đỏ và một cặp cựa sắt.
Khi cả ba người đến địa điểm như đã hẹn trước đó, thì ông N1 mang ra một con gà trống có đặc điểm màu lông vàng đen và một cái cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H1 (loại 5kg). Lúc này, bị cáo C và ông N1 để gà lên cân, kết quả cả hai con gà cùng có trọng lượng cân nặng là 2,7kg. Sau đó, ông N1 cung cấp băng keo cho bị cáo C quấn cựa vào chân gà, bị cáo T1 là người ôm gà cho bị cáo C, còn ông N1 nhờ một người nam thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) ôm gà để ông N1 quấn cựa. Sau khi quấn cựa xong thì bị cáo C và ông N1 thỏa thuận cá cược đá đồng với nhau. Lúc đầu bị cáo C và ông N1 thỏa thuận số tiền cá cược là 600.000 đồng, sau đó ông N1 đề nghị tăng thêm 500.000 đồng, tổng cộng số tiền cá cược là 1.100.000 đồng. Nghe vậy thì bị cáo T1 hùn thêm số tiền 500.000 đồng với bị cáo C, được bị cáo C đồng ý và nhận lấy số tiền nêu tên từ bị cáo T1. Sau khi thỏa thuận thống nhất về số tiền cá cược hai bên gà bắt đầu thả gà ra đá. Bị cáo C và ông N1 mỗi người ôm một con gà đối diện nhau, ông N1 hô to “1, 2, 3” hai bên thả gà cho đá được khoảng hai phút thì gà của bị cáo C thua. Tuy nhiên, cả hai bên chưa kịp chung chi tiền cá cược thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra.
Qua quá trình điều tra đã chứng minh được hành vi và số tiền của các bị cáo và đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, cụ thể như sau:
- Ông Kim Thanh N1: Khai nhận là chủ gà trống có đặc điểm màu lông vàng đen; cung cấp cân, băng keo và sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để cá cược với bị cáo C và bị cáo T1. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện kết quả gà của ông N1 thắng nhưng chưa nhận được tiền từ bị cáo C và bị cáo T1. Cơ quan điều tra tạm giữ từ ông N1 số tiền cá cược 1.100.000 đồng; 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn H1 (loại cân 05kg). Riêng con gà trống và cặp cựa sắt Cơ quan Công an không thu giữ được.
- Bị cáo Nguyễn Hữu C: Khai nhận là chủ gà trống có đặc điểm màu lông vàng đỏ. Bị cáo trực tiếp tham gia cá cược 600.000 đồng và nhận tiền hùn cá cược từ bị cáo T1 số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền tham gia cá cược là 1.100.000 đồng. Kết quả khi lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện thì gà của bị cáo C thua. Cơ quan điều tra tạm giữ từ bị cáo C số tiền 1.100.000 đồng; 01 con gà trống và 01 cặp cựa sắt.
- Bị cáo Nguyễn Minh T1: Khai nhận sử dụng số tiền 500.000 đồng hùn với bị cáo C để cá cược với ông N1 và đã đưa tiền cho bị cáo C giữ. Kết quả khi lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện thì gà của bị cáo C thua. Cơ quan điều tra không tạm giữ số tiền đánh bạc từ bị cáo.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo và đối tượng nêu trên bị tạm giữ là 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Qua quá trình xác minh, điều tra nhận thấy bị cáo Nguyễn Hữu C, vào ngày 02/02/2022 có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an xã M, huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 07/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2022 với số tiền 1.500.000 đồng (chưa chấp hành nộp phạt và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Riêng bị cáo Nguyễn Minh T1, vào ngày 13/8/2023 có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 111/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2023 với số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 05/9/2023, bị cáo T1 đã chấp hành nộp phạt số tiền nêu trên (chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
Đến ngày 02/12/2023, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ của bị cáo Nguyễn Hữu C số tiền sử dụng đánh bạc 1.100.000 đồng và 01 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng.
Đối với Kim Thanh N1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của ông N1 chỉ vi phạm hành chính. Ngày 08/12/2023, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng theo Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Đồng thời, tịch thu tiêu hủy và sung ngân sách nhà nước các dụng cụ, tiền của các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Đối với bà Thạch Thị Sa N2, sinh năm 1942 nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là người quản lý và sử dụng khu đất trống nêu trên. Qua điều tra xác minh làm rõ, các bị cáo và đối tượng tự đến và sử dụng phần đất của bà để tham gia đánh bạc, bà N2 hoàn toàn không biết và hiện nay bà N2 đã chết. Do đó, không xem xét xử lý đối với bà N2.
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKS-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố. Các bị cáo xác nhận lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra là do các bị cáo tự nguyện khai ra mà không bị ai ép buộc hay dụ dỗ, các bị cáo không thay đổi lời khai.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên được phân công giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Sơn M từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 mỗi người 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc 1.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu C.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tự bào chữa như sau: Bị cáo H2 đề nghị xem xét lại bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính năm 2017. Bị cáo cho rằng mới phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, còn cha mẹ già phải phụng dưỡng. Bị cáo Đ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo M xin cho giảm nhẹ hình phạt vì còn 02 con còn nhỏ không ai chăm sóc, không có tiền để lo cho con.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo C, bị cáo T1 xin hưởng án treo để có cơ hội phụng dưỡng cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 là phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của người làm chứng tham gia đánh bạc là ông Kim Thanh N1, ông Lê Minh T2 và biên bản sự việc của Công an huyện T lập ngày 02/12/2023, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng là 01 cặp cựa gà bằng sắt, 01 cân đồng hồ và 01 con gà trống nặng 2,7kg. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận: Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02/12/2023, tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 đã có hành vi đánh bạc trái phép cá cược thắng thua bằng tiền (dưới hình thức chơi đá gà) cùng với đối tượng Kim Thanh N1, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc bị tạm giữ 2.200.000 đồng.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu C có lời khai bị cáo C là chủ con gà trống có đặc điểm màu lông vàng đỏ. Bị cáo trực tiếp tham gia cá cược 600.000 đồng và nhận tiền hùn cá cược từ bị cáo T1 số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền tham gia cá cược 1.100.000 đồng. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện thì gà của bị cáo C thua. Cơ quan điều tra tạm giữ từ bị cáo C số tiền 1.100.000 đồng; 01 con gà trống và 01 cặp cựa sắt. Bị cáo T1 xác nhận có hùn tham gia đánh bạc số tiền 500.000 đúng như bị cáo C trình bày.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương đánh bạc trái phép là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo đều nhận thức rõ mình thực hiện hành vi bị pháp luật cấm, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Động cơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Tổng số tiền các bị cáo cùng tham gia đánh bạc bằng 2.200.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng, nhưng vào ngày 02/02/2022 bị cáo Nguyễn Hữu C có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2022 với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt. Đối với bị cáo T1 vào ngày 13/8/2023 có hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 111/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2023 với số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 05/9/2023, bị cáo T1 đã chấp hành nộp phạt số tiền nêu trên. Đến ngày 02/12/2023 bị cáo C và bị cáo T1 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) mà còn có hành vi đánh bạc trái phép nên hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo C và bị cáo T1 lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Trong vụ án này, bị cáo C có nhân thân tốt nhưng là người có vai trò rủ rê bị cáo T1 tham gia đánh bạc trái phép. Đối với bị cáo T3 có nhân thân xấu, ngày 13/01/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh kết án về tội hủy hoại tài sản với mức hình phạt cải tạo không giam giữ 12 tháng theo bản án hình sự số 10/HSST, ngày 16/5/2003 (đã xóa án tích). Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, để các bị cáo thấy được sự nghiêm mình của pháp luật mà sửa chưa sai lầm, đồng thời để răn đe, phòng ngừa cho xã hội đối với những hành vi tượng tự.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều thân nhân thuộc diện có công cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo C quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cho bị cáo T1 quy định tại điểm, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy số tiền các bị cáo dùng đánh bạc nhỏ, quy mô số người tham gia ít, tính chất vụ án ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu cho các bị cáo hưởng án treo sẽ không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại địa bàn huyện T. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo nhằm tác động đến lợi ích kinh tế của bị cáo, để bị cáo có nhận thức về hành vi sai trái của mình mà từ bỏ hành vi đánh bạc.
[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ 01 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc 1.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu C.
[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được thu thập là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 25.000.000 đồng là hình phạt chính.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 25.000.000 đồng là hình phạt chính.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ 01 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc 1.100.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu C.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Hữu C và Nguyễn Minh T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Sơn Ken |
Nguyễn Văn Truyền |
|
Nguyễn Thị Anh Đào |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về đánh bạc
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Cường - đánh bạc
