|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HSST Ngày: 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH – TỈNH LONG A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Vân Khánh
Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Hoàng H, sinh ngày 05/01/1984, tại: xã N, huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Văn T (đã chết) và bà Trương Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2021, đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2024, đến ngày 10/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 164/LC-CSĐT ngày 10/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An, kể từ ngày 10/7/2024 đến ngày 08/10/2024; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Thanh P, sinh năm: 02/4/2002; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: ông Nguyễn Văn P1, sinh năm: 20/6/1979; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối 2023, Phan Hoàng H quen biết Nguyễn Thanh P. Đến khoảng đầu tháng 6/2024, P kết bạn từ tài khoản Zalo của P tên “Trách Duyên, Trách P2” với tài khoản Z tên “Shemale Bảo Hân” của Phan Hoàng H và thường nhắn tin nói chuyện qua lại. H có nói với P nếu có mua ma túy thì liên hệ với H. Đến ngày 24/6/2024, H đi hát tại đám cưới tại Thị xã C, tỉnh Tiền Giang (không rõ địa điểm cụ thể), thì gặp và quen biết một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi dự tiệc đám cưới xong H đến nhà người thanh niên này để chơi (không rõ địa chỉ) và biết người thanh niên này có ma túy nên H hỏi mua 300.000 đồng ma túy. Người thanh niên trên không lấy tiền của H mà cho H 01 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy và 01 nỏ thủy tinh. H bỏ vào túi xách mang về nhà của H. Khi về đến nhà, H lấy gói nylon chứa ma túy, 01 nỏ thủy tinh và lấy thêm một ống nhựa trong suốt bỏ vào bịch nylon màu đen đem cất giấu dưới lớp bê tông đường đi trước nhà H tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Đến 16 giờ 31 phút ngày 30/6/2024, P sử dụng tài khoản Zalo của P tên “Trách duyên, Trách phận” nhắn tin đến tài khoản Zalo của H tên “Shemale Bảo Hân” với nội dung: “Gọi giúp a cái nồi với 300 đồ”, có nghĩa là P hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy và 01 cái nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy. Lúc này, H đang có sẵn 01 gói ma túy và 01 nỏ thủy tinh nên H nảy sinh ý định bán lại cho P để lấy tiền để tiêu xài cá nhân. H đồng ý bán và kêu P đến nhà H để lấy ma túy và nỏ thủy tinh. Sau đó, H lấy gói ma túy cất giấu dưới lớp bê tông đường đi trước nhà H trước đó bỏ vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hero và bỏ trở lại bịch nylon màu đen cùng với 01 nỏ thủy tinh. Hân để trên chậu kiểng trước nhà của H để bán cho P. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, P mượn xe đạp của ông Nguyễn Văn H1 và điều khiển xe đạp đi một mình đến trước cửa nhà của H để gặp H. P trực tiếp đưa cho H số tiền 350.000 đồng (tiền mua ma túy là 300.000 đồng, tiền mua 01 nỏ thủy tinh là 50.000 đồng). H chỉ chỗ cho P lấy 01 bịch nylon màu đen để sẵn trong chậu kiểng trước nhà của H, trong bịch nylon có 01 gói thuốc lá hiệu Hero, trong gói thuốc có 01 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong là ma túy và 01 nỏ thủy tinh. P lấy gói ma túy và nỏ thủy tinh bỏ vào balo vải màu đen, mang trên vai điều khiển xe đạp về trả xe đạp cho ông Nguyễn Văn H1 và đi bộ về nhà. Khi P đi ngang nhà của ông Nguyễn Văn P1, ông P1 nhìn thấy P mang balo trên người nên nghi ngờ P cất giấu ma túy trong balo nên ông P1 kêu P dừng lại để kiểm tra balo. Ông P1 phát hiện trong balo vải màu đen của P có 01 gói nylon bên trong có chất tinh thể màu trắng, ông P1 nghi là ma túy nên trình báo ngay đến Công an xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 30/6/2024, tại ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An, Công an xã N, huyện T lập biên bản bắt quả tang đối với Nguyễn Thanh P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ tang vật gồm: 01 túi nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, dạng rắn, nghi là chất ma túy được cất giấu trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, 01 nỏ thủy tinh, 01 bật lửa, 01 ống hút nhựa trong suốt, 01 balo vải màu đen, 01 điện thoại di động của P. Đến sáng ngày 01/7/2024, Phan Hoàng H nghe được thông tin từ người dân (không rõ cụ thể là ai) về việc P bị công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên H tự nguyện đến Công an xã N, huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho P như đã nêu trên.
Qua điều tra xác định được:.
Tại Bản Kết luận giám định số 462/KL-KTHS, ngày 08/7/2024 của Phòng K – Công an tỉnh L. Kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong một gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0948 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTT, ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Hoàng H từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,0403 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong; 01 nỏ thủy tinh có một đầu tròn, chưa qua sử dụng là dụng cụ sử dụng ma túy bị cáo Phan Hoàng H bán cho Nguyễn Thanh P; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu hiệu Hero là công cụ bị cáo Phan Hoàng H sử dụng để cất giấu ma túy; 01 ống thủy tinh có một đầu tròn, đã qua sử dụng; 01 lọ thủy tinh đường kính 04 cm, cao 08 cm, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, cao 8,5cm, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím - trắng; 01 bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng là dụng cụ bị can Phan Hoàng H dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 bật lửa hình trụ màu bạc, 01 ống hút nhựa trong suốt, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh P dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 balo vải màu đen thuộc sở hữu của Nguyễn Thanh P sử dụng để cất giấu ma túy. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước tiền số tiền 350.000 đồng (03 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng) là tiền bị cáo Phan Hoàng H bán ma túy mà có; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, bên trong có gắn hai thẻ sim, sim 1 số: 0355.087.578, sim 2 số: 0355.087.579, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Phan Hoàng H, sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1, màu tím, số IMEI 1: 863091035855332, số IMEI 2: 863091035855324, bên trong gắn 02 thẻ sim, gồm sim 1 số 0366404355 và sim 2 số 0983569034 thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Thanh P sử dụng liên lạc với bị cáo Phan Hoàng H để mua ma túy.
Về hình phạt bổ sung: đại diện Viện kiểm sát không có đề nghị.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo biết hành của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình, cam kết không tái phạm và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện chữa trụ bệnh và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Tân Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Thanh P và người làm chứng là ông Nguyễn Văn P1 vắng mặt tại phiên tòa. Anh P và ông P1 đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án người làm chứng.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ ngày 30/6/2024, tại nhà của Phan Hoàng H tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An, H đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh P với số tiền là 300.000 đồng tiền và 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy số tiền là 50.000 đồng. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Thanh P đang trên đường đem ma túy và nỏ thủy tinh về nhà của P để sử dụng thì bị Công an xã N, huyện T, tỉnh Long An bắt quả tang, thu giữ 01 nỏ thủy tinh và 01 túi nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0948 gam.
[4] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Bị cáo có đầy đủ nhận thức và năng lực điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo cũng nhận thức được ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên pháp luật nghiêm cấm các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, vì mục đích thu lợi, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét thấy, hiện nay tình trạng sử dụng ma túy trên địa bàn huyện T ngày càng tăng, nhất là thanh thiếu niên, việc sử dụng ma túy làm suy giảm sức khỏe, tinh thần, ảnh hưởng chung đối với nền kinh tế; đồng thời cũng là một trong các nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Do đó, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần căn cứ tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt tương ứng.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nê được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tạo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo tự nguyện đầu thú; bị cáo H mắc bệnh truyền nhiễm HIV nên nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về nhân thân của bị cáo: tính đến thời điểm thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo H không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, về nhân thân, bị cáo H có nhân thấn xấu: ngày 22/11/2018, H bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2021, đã được xóa án tích. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo đã từng bị kết án, sau khi được xóa án tích bị cáo vẫn không tiếp tục cải tạo thành người công dân tốt, chấp hành tốt quy định của pháp luật mà tiếp tục có hành vi phạm pháp luật hình sự .
[8] Từ các căn cứ trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về căn cứ pháp luật, về hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo hiện bị bệnh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[10] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
[10.1] Về việc bị cáo Phan Hoàng H có hành vi bán cho anh Nguyễn Thanh P 01 nỏ thủy tinh là dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy: xét thấy số lượng dụng cụ bị cáo H bán cho P dưới 06 dụng cụ nên hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành văn bản số 973/CSĐT ngày 05/8/2024 về việc chuyển hồ sơ cho Công an huyện T, tỉnh Long An để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Hoàng H theo quy định tại đểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.
[10.2] Đối với Nguyễn Thanh P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng trái phép chất ma túy. Qua giám định tinh thể màu trắng đựng trong một gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0948 gam, loại Methamphetamine. P tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng dưới 0,1 gam nên hành vi của Nguyễn Thanh P không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra văn bản số 973/CSĐT ngày 05/8/2024 về việc chuyển hồ sơ cho Công an huyện T, tỉnh Long An đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh P theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.
[10.2] Đối với người thanh niên cung cấp ma túy cho Phan Hoàng H: bị cáo H khai nhận nguồn gốc ma túy và nỏ thủy tinh H bán cho Nguyễn Thanh P là từ một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) cho H vào ngày 24/6/2024. H không biết nhân thân, lai lịch người thanh niên trên. Qua kết quả điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch người thanh niên trên nên không có cơ sở xem xét xử lý là phù hợp.
[11] Về vật chứng trong vụ án: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý vật chứng, cụ thể như sau:
[11.1] Đối với chất ma túy đã thu giữ, mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,0403 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.
[11.2] Đối với số tiền Việt Nam 350.000 đồng (03 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng) do bị cáo Phan Hoàng H giao nộp, đây là số tiền bị cáo H bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[11.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, bên trong có gắn hai thẻ sim, sim 1 số: 0355.087.578, sim 2 số: 0355.087.579, đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Phan Hoàng H, sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[11.4] Đối với 01 nỏ thủy tinh có một đầu tròn, chưa qua sử dụng là dụng cụ sử dụng ma túy bị cáo Phan Hoàng H bán cho Nguyễn Thanh P; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu hiệu Hero là công cụ bị can Phan Hoàng H sử dụng để cất giấu ma túy; 01 ống thủy tinh có một đầu tròn, đã qua sử dụng; 01 lọ thủy tinh đường kính 04 cm, cao 08 cm, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, cao 8,5cm, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím - trắng; 01 bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng là dụng cụ bị cáo Phan Hoàng H dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
[11.5] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1, màu tím, số IMEI 1: 863091035855332, số IMEI 2: 863091035855324, bên trong gắn 02 thẻ sim, gồm sim 1 số 0366404355 và sim 2 số 0983569034 thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Thanh P sử dụng liên lạc để mua ma túy do bị cáo Phan Hoàng H bán nên cần tịch thu saung Ngân sách Nhà nước.
[11.6] Đối với 01 bật lửa hình trụ màu bạc, 01 ống hút nhựa trong suốt, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh P dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 balo vải màu đen thuộc sở hữu của Nguyễn Thanh P sử dụng để cất giấu ma túy nên cần tịch thu sung tiêu hủy.
[12] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Hoàng H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/7/2024 đến ngày 10/7/2024.
- Về vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- Chất ma túy, mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,0403 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.
- 01 (một) nỏ thủy tinh có một đầu tròn, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu hiệu Hero.
- 01 (một) ống thủy tinh có một đầu tròn, đã qua sử dụng.
- 01 (một) lọ thủy tinh đường kính 04 cm, cao 08 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, cao 8,5cm, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa màu tím - trắng.
- 01 (một) bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) bật lửa hình trụ màu bạc.
- 01 (một) ống hút nhựa trong suốt.
- 01 (một) balo vải màu đen.
2.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, bên trong có gắn hai thẻ sim, sim 1 số: 0355.087.578, sim 2 số: 0355.087.579, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1, màu tím, số IMEI 1: 63091035855332, số IMEI 2: 863091035855324, bên trong gắn 02 thẻ sim, gồm sim 1 số 0366404355 và sim 2 số 0983569034.
- Tiền Việt Nam: 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Hiện tất cả vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKSTT, ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Về án phí:
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phan Hoàng H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đối với phần nội dung có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Hoàng H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
