|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng
Bà Trần Thị Ngọc Phượng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly – Kiểm sát Viên
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST – HS, ngày 12-7-2024, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST – HS ngày 18-7-2024, đối với bị cáo:
Lê Thị H, sinh năm 1967, tại huyện T, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc T và bà Huỳnh Thị M; anh, em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ 02; chồng tên Phạm Văn Đ, có 01 người con sinh năm 1988; tiền án; tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10-10-2023 đến nay, bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Trần Minh G, sinh năm 1989; nơi cư trú: ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978; nơi cư trú: ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Lê Quốc Q, sinh năm 1977, có mặt; ông Lê Hữu T2, sinh năm 1983, vắng mặt; ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1977, vắng mặt; bà Võ Thị Ngọc T3, sinh năm 1995, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24-8-2022, Tổ Liên ngành chống buôn lậu tỉnh An Giang phối hợp với Đồn Biên phòng L1 và Công an xã L tuần tra phát hiện 01 xe cải tiến (xe tự chế) do Trần Minh G điều khiển chở nhiều bao lúa hướng từ biên giới Campuchia về khu đất trống, thuộc ấp V, xã L, huyện T, để lúa xuống thành đống có tổng cộng 918 bao, với tổng khối lượng 57.685 kg và 01 nhóm công đoàn đã vác 220 bao lúa, tổng khối lượng 13.161 kg xuống ghe CT-10267 của Nguyễn Tuấn K1. Thời điểm kiểm tra, H khai tổng số lúa bị thu giữ là của H, nhưng không xuất trình được giấy tờ có liên quan nên tiến hành lập biên bản cùng vật chứng.
Qua điều tra xác định được: Đầu năm 2022, H thuê đất ruộng tại Campuchia của S và L, với diện tích 100 công để canh tác lúa, rồi H thuê S và L chăm sóc, tưới tiêu. Ngày 23-8-2022, thu hoạch xong, H kêu S và L chở lúa qua vành đai biên giới Việt Nam, để đem về bán cho thương lái, nhưng H không thực hiện thủ tục khai báo theo quy định. H kêu Phạm Văn Đ (chồng của H) thuê xe chở 250 bao lúa về điểm tập kết tại khu đất trống để bán, sau đó, H tiếp tục thuê xe của G và một người không rõ họ tên, địa chỉ chở thêm 888 bao lúa còn lại về bán cho Nguyễn Văn H1, thì bị Tổ Liên ngành phát hiện bắt quả tang.
Đến ngày 10-10-2023, H bị khởi tố, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe cải tiến (tự chế) không biển kiểm soát;
- 01 quyển sổ màu trắng ghi số lượng lúa (lưu trong hồ sơ vụ án);
- 1.138 bao nilon màu xanh không nhãn hiệu;
- Tiền Việt Nam 383.884.500 đồng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 73 ngày 04/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 220 bao lúa, có khối lượng 13.161 kg, giống lúa 5451, loại lúa khô trị giá 72.385.500 đồng.
- 918 bao lúa, có khối lượng 57.685 kg, giống lúa 5451, loại lúa bị ẩm ướt trị giá 311.499.000 đồng.
Tổng trị giá là 383.884.500 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá.
Bản cáo trạng số 45/CT-VKSTT ngày 12-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố Lê Thị H về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án 30-7-2024.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý:
Đối với xe cải tiến tự chế của ông Nguyễn Văn T1 giao cho ông Trần Minh G quản lý chở lúa cho bị cáo, xe này là xe do T1 tự chế không có giấy tờ hợp pháp, không đủ điều kiện tham gia giao thông nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; số tiền bán lúa 383.884.500 đồng, đây là số tiền có được từ bán hàng hóa trái phép mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; đối với 1.138 bao nilon là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; đối với 1.138 bao nilon là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Ông Phạm Văn Đ có hành vi thuê xe chở 250 bao lúa (trị giá khoảng 78.000.000 đồng) từ khu vực vành đai biên giới về ấp V, xã L, huyện T, xét thấy do chưa đủ định lượng, Đ chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.
Các ông Trần Minh G, Nguyễn Văn H1 có hành vi chở thuê lúa, mua lúa của bị cáo H nhưng không biết nguồn gốc lúa do H vận chuyển từ Campuchia về Việt Nam, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, cũng phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24-8-2022, bị cáo Lê Thị H đã có hành vi vận chuyển trái phép 1.138 bao lúa với trọng lượng 70.846 kg từ Campuchia về khu đất trống, thuộc ấp V, xã L, huyện T, tổng giá trị lúa là 383.884.500 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội khi có ý thức rõ ràng, dù biết rằng hành vi vận chuyển trái phép lúa qua biên giới là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự vùng giáp biên và an toàn xã hội tại địa phương, gây thiệt hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định của thị trường hàng hóa, nhưng vì lợi ích cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên am hiểu pháp luật có phần hạn chế, nhân thân tốt, gia đình đang khó khăn về kinh tế có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Do đó, không cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với xe cải tiến tự chế của ông Nguyễn Văn T1 giao cho ông Trần Minh G quản lý chở lúa cho bị cáo, xe này là xe do T1 tự chế không có giấy tờ hợp pháp, không đủ điều kiện tham gia giao thông nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; số tiền bán lúa 383.884.500 đồng, đây là số tiền có được từ bán hàng hóa trái phép mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; đối với 1.138 bao nilon là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với Phạm Văn Đ có hành vi thuê xe chở 250 bao lúa (trị giá khoảng 78.000.000 đồng) từ khu vực vành đai biên giới về ấp V, xã L, huyện T, xét thấy do chưa đủ định lượng, Đ chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là phù hợp.
Trần Minh G, Nguyễn Văn H1 có hành vi chở thuê lúa, mua lúa của bị can H nhưng không biết nguồn gốc lúa do H vận chuyển từ Campuchia về Việt Nam, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 30-7-2024 (ngày ba mươi tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Giao bị cáo Lê Thị H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe cải tiến tự chế và số tiền 383.884.500 đồng (Ba trăm tám mươi ba triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Tịch thu tiêu hủy 1.138 bao nilon màu xanh.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-7-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện T).
Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vận chuyển hàng hóa
