TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2024 V/v “Tranh chấp Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Từ Tứ Hải
- Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên toà:
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T, sinh năm 1969 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn Á, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản về việc không tiến hành hòa giải, Biên bản Phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn bà Đinh Thị T trình bày: Bà và ông Đỗ Văn Á chung sống với nhau từ năm 1988, không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống thì xãy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không thấu hiểu lẫn nhau, từ đó thường xuyên cãi vã, dẫn đến đời sống vợ chồng không được hạnh phúc.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục chung sống và mục đích hôn nhân không đạt được.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung tên:
- Đỗ Thanh T1, sinh ngày 24/6/1990
- Đỗ Thanh T2, sinh ngày 19/01/1992
- Đỗ Văn T3, sinh ngày 06/10/1996
- Đỗ Văn T4, sinh ngày 20/9/2000
Các con đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung.
Tại phiên toà bà Đinh Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Văn Á.
- Về con chung: Các con Đỗ Thanh T1, sinh ngày 24/6/1990, Đỗ Thanh T2, sinh ngày 19/01/1992, Đỗ Văn T3, sinh ngày 06/10/1996 và Đỗ Văn T4, sinh ngày 20/9/2000 đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Đỗ Văn Á: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông Đỗ Văn Á tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, cũng như triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng ông Á đều vắng mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Đỗ Văn Á cư trú tại Khu phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đỗ Văn Á mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, phía bà T đồng ý xét xử vắng mặt ông Á. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Á.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị T và ông Đỗ Văn Á tự nguyện xác lập mối quan hệ hôn nhân từ năm 1988, đến thời điểm hiện tại tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng ông, bà không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông, bà đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức.
Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét mâu thuẫn thực tế của bà T, ông Á là do trong thời gian chung sống giữa vợ chồng ông, bà bất đồng quan điểm, không thấu hiểu lẫn nhau, từ đó thường xuyên cãi vã, dẫn đến đời sống vợ chồng không được hạnh phúc. Hơn nữa, tại phiên tòa bà T xác định hiện tại vợ chồng bà đã không còn tình cảm gì với nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà cương quyết ly hôn với ông Á. Xét hôn nhân giữa bà T, ông Á đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa bà T, ông Á tiến tới hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm về mặt hình thức, nên Hội đồng xét xử thống nhất không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị T và ông Đỗ Văn Á.
[4]Về con chung: Các con Đỗ Thanh T1, sinh ngày 24/6/1990, Đỗ Thanh T2, sinh ngày 19/01/1992, Đỗ Văn T3, sinh ngày 06/10/1996 và Đỗ Văn T4, sinh ngày 20/9/2000 đã trưởng thành, bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Đinh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[8] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06 - 01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị T và ông Đỗ Văn Á.
- Về quan hệ con chung: Các con Đỗ Thanh T1, sinh ngày 24/6/1990, Đỗ Thanh T2, sinh ngày 19/01/1992, Đỗ Văn T3, sinh ngày 06/10/1996 và Đỗ Văn T4, sinh ngày 20/9/2000 đã trưởng thành, bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Đinh Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003663 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Đinh Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với ông Đỗ Văn Á có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh Nguyệt |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đinh Thị T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đỗ Văn A
