Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày 30/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nông Hữu Thái;

2/ Bà Vũ Thị Kim Quỳnh;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên toà:

Bà Phùng Thị Thêu – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST - HS ngày 10/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Xuân M, (tên gọi khác: Trịnh Thanh L, Trịnh Mai L1), sinh ngày 06/4/1967 tại Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân K và bà Hà Thị D (Đều đã chết); vợ: Vũ Thị N; con: Có 01 con sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 06/3/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “tổ chức dùng chất ma túy” theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 1985 tại Bản án số 12/HSST.
  • - Ngày 14/4/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 15/2015/HSPT. Ngày 14/11/2015 chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ.
  • - Ngày 07/8/2000 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm G - 06 với thời hạn 06 (sáu) tháng tại Quyết định số 1098/QĐ - UB.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024, sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Mai Quế P, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 45 phút ngày 16/01/2024 tại khu vực tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Trịnh Xuân M (tên gọi khác: Trịnh Thanh L, Trịnh Mai L1), sinh năm 1967, trú tại tổ A phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong túi áo khoác đằng trước bên trái Trịnh Xuân M đang mặc có 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt có chữ in màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng lẫn hồng, bên ngoài được bọc bằng nilon nghi là chất ma túy (niêm phong phong bì kí hiệu M1). Tạm giữ của Trịnh Xuân M 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh, 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B2-140.67 cùng chìa khóa xe đều đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành mở niêm phong và cân xác định số chất bột màu trắng lẫn hồng trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là 0,27g (không phẩy hai bảy gam). Sau khi cân, niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng lẫn hồng vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định. Phong bì, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu A2 bảo quản theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Xuân M khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Trịnh Xuân M một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển kiểm soát 97B2 – 140.67 đi từ nhà ở thuộc tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến cơ sở điều trị Methadone tỉnh Bắc Kạn để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong, Trịnh Xuân M muốn sử dụng ma túy nên đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2 – 140.67 đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi Trịnh Xuân M điều khiển xe mô tô đến khu vực chợ M2 thì gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán nên Trịnh Xuân M đã đưa cho người đàn ông này 200.000,₫ (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông cầm tiền và bán cho Trịnh Xuân M 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt có chữ in màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng lẫn hồng, bên ngoài được bọc bằng nilon (chất bột màu trắng lẫn hồng là ma túy). Sau khi mua được ma túy, Trịnh Xuân M cất giấu số ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác đằng trước bên trái Trịnh Xuân M đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi Trịnh Xuân M đi đến khu vực tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang cùng vật chứng.

- Kết luận giám định số 50/KL - KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

+ Mẫu chất bột màu trắng lẫn hồng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine và loại Methamphetamine, có tên khoa học là: (+) – (S) – N – α – dimethylphenethylamine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

+ Mẫu chất bột màu trắng lẫn hồng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là: 0,27g (không phẩy hai bảy gam).

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu A1 còn lại 0,21g (không phẩy hai một gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T42 hoàn trả lại cho cơ quan trưng câu.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSTPBK, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Trịnh Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ...

b,

c, H, ..., M1, .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân M (tên gọi khác: Trịnh Thanh L, Trịnh Mai L1), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Xuân M từ 15 đến 18 tháng tù. Thời

hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • -Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T42; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh, điện thoại có số IMEI1: 864591058432074 và IMEI2: 864591058432066, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) số thuê bao 8435035970, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
  • - Tạm giữ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Trịnh Xuân M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000595, ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

*Bị cáo Trịnh Xuân M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Mai Quế P vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra, chị P có lời khai chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision biển kiểm soát 97B2 – 140.67 đăng ký chính chủ mang tên Trịnh Mai Quế P và thuộc sở hữu của chị. Đầu tháng 01/2024, chị có cho bị cáo Trịnh Xuân M mượn làm phương tiện đi lại. Bản thân chị không biết việc bị cáo Trịnh Xuân M sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Chị P xác nhận chị đã được Công an thành phố B trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision biển kiểm soát 97B2 – 140.67, nay chị không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Hồi 07 giờ 45 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Trịnh Xuân M có hành vi tàng trữ trái phép 0,27g (không phẩy hai bảy gam) ma túy, loại H và M1 với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Trịnh Xuân M có nhân thân xấu: Năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “tổ chức dùng chất ma túy” theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 1985; năm 2000 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm G - 06 với thời hạn 06 (sáu) tháng; ngày 14/4/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Trịnh Xuân K được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T42, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Trịnh Xuân M, sinh năm 1967 tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, túi nilo và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 08 (tám) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ Trịnh Xuân M và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh, điện thoại có số IMEI1: 864591058432074 và IMEI2: 864591058432066, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) số thuê bao 8435035970, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Trịnh Xuân M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000595, ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Vision màu trắng, đen, bạc, gắn biển kiểm soát 97B2 – 140.67, quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Mai Quế P, sinh năm 1993, trú tại tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Chị P cho bị cáo Trịnh Xuân M (là bố đẻ chị P) mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên, chị P không biết việc Trịnh Xuân M sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô trên cho chị Trịnh Mai Quế P là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trịnh Xuân M vào ngày 16/01/2024, do M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Trịnh Mai Quế P là người đã cho Trịnh Xuân M mượn xe mô tô biển kiểm soát 97B2 – 140.67. Ngày 16/01/2024, Trịnh Xuân M điều khiển xe mô tô trên và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng Trịnh Mai Q phương không biết, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trịnh Mai Quế P là phù hợp.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Trịnh Xuân M (tên gọi khác: Trịnh Thanh L, Trịnh Mai L1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân M 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T42, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Trịnh Xuân M, sinh năm 1967 tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, túi nilo và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 08 (tám) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ Trịnh Xuân M và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh, điện thoại có số IMEI1: 864591058432074 và IMEI2: 864591058432066, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) số thuê bao 8435035970, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Trịnh Xuân M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000595, ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Trịnh Xuân M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TPΒΚ;
  • - Công an TPBK;
  • - Chi cục THADS TPBK;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Xuân M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger