|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày 30/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trung;
Bà Võ Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Vương Hoàng Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tuấn Đ, sinh năm 2000 tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Trần Mỹ H, sinh năm 2000 (không đăng ký kết hôn); có 01 con Trần Ngọc Thùy T1, sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2023 đến ngày 15/12/2023 tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Đinh Xuân H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn R, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Tạm trú: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tiến M, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Đinh Thị Kim T2, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương Có đơn xin vắng mặt
- Bà Đinh Thị Mai T3, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tạm trú: Ấp G, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
- Ông Đinh Thái N1, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
5. Bà Đinh Thị N2, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn R, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Tạm trú: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn K. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Đức P. Vắng mặt
- Bà Trần Thị Bích T4. Vắng mặt
- Bà Nguyễn Ngọc L. Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị M1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Thị Kim T2 và Đinh Thị N2 làm công nhân tại Công ty N3. Ngày 05/4/2023, trong lúc làm việc T2 và Na xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại với nhau nên khi về phòng trọ T2 kể lại cho Nguyễn Tiến M (người yêu của T2) nghe và nhờ M ngày 06/4/2023 đến Công ty đón T2 để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn với N2.
Khoảng 16 giờ ngày 06/4/2023, T2 gọi điện cho Nguyễn Thị Mai T5 (bạn T2) nhờ T5 đến Công ty N3 để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn với N2. M điện thoại cho Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức P, Trần Thị Bích T4 (bạn của M) nhờ K, P, T4 đến Công ty N3 để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn với N2. T4 gọi điện cho Trần Tuấn Đ (bạn của T4) đến Công ty N3 để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn giữa T2 với N2. Trong lúc uống cà phê tại quán C thuộc khu phố B, thị trấn P, P, Bình Dương, T4 gặp Nguyễn Ngọc L (bạn của T4) đang uống cà phê tại đây nên T4 nhờ L chở đến Công ty N3. Sau đó, M điều khiển xe mô tô biển số 61F1-566.48, K điều khiển xe mô tô biển số 61F1-237.64 chở theo P, L điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T4; Đ điều khiển xe mô tô biển số 61H1-286.47 chở theo Ung Minh P1 (không rõ nhân thân, bạn của Đ) cùng đến Công ty N3 đợi T2.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, T2 tan làm đi ra cổng Công ty thì gặp M, K, T5, P, T4, L, Đ, P1 nên cả nhóm đứng đợi Na tan làm đi ra để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn giữa T2 và N2. Khoảng 05 phút sau, Na tan làm đi ra thì Đinh Xuân H1 (chồng N2) điều khiển xe mô tô biển số 73P2-2437 chở N2 về, cùng về có Đinh Thái N1 (em của N2) điều khiển mô tô biển số 61F1-135.66 chở Đinh Thị Huyền T6 (em của N2). Thấy vậy, M điều khiển xe mô tô biển số 61F1-566.48 chở T2 và T5 đi theo vợ chồng N2. K điều khiển xe mô tô chở theo P; L điều khiển xe mô tô chở T4; Đ điều khiển xe mô tô chở theo P1 đi theo M. Do sợ bị đánh nên H1 điều khiển xe mô tô chở N2 vào nhà bà Nguyễn Thị M1 cách Công ty khoảng 100m thì dừng lại. M, T2, K, T5, P, T4, L, Đ, P1 chạy đến và dừng lại. Na vừa xuống xe thì T2 và T5 đi lại nói chuyện và yêu cầu N2 xin lỗi T2 nhưng N2 không xin lỗi nên giữa N2 với T2 và T5 lời qua tiếng lại. Lúc này M cầm 01 chiếc đũa bằng tay phải lao vào đâm N2 nhưng Na tránh được, N1 can ngăn kéo N2 ra chỗ khác; L, T4 can ngăn Mạnh lại thì M dùng tay đánh N1 nên N1 dùng nón bảo hiểm đánh lại M. T2 và T5 cầm nón bảo hiểm đánh N2. Hiệu vào can ngăn không cho M đánh N1. Trong lúc can ngăn, H1 thấy Đ cũng xông vào, sợ bị đánh nên H1 cầm 01 cây sắt dài khoảng 49cm ở gốc cây sung trước nhà bà M1 đánh vào
người Đ, bị đánh nên Đ lấy 01 dao thái lan dài khoảng 20cm (cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại) để ở hộc phía trước xe mô tô của Đ đâm về phía Hiệu thì lưỡi dao trúng vào thanh sắt H1 đang cầm nên lưỡi dao bị gãy. Đ tiếp tục cầm lưỡi dao bị gãy đâm về phía Hiệu và trúng vào ngực trái và vùng mặt bên trái của H1. Hiệu được người nhà đưa đi điều trị thương tích tại trung tâm y tế huyện P. Sau đó, H1 làm đơn tố cáo gửi Công an xã V, Công an xã V chuyển tin báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thụ lý giải quyết. Ngày 22/10/2023, Trần Tuấn Đ ra đầu thú tại Công an huyện P, tinh B và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 chiếc đũa tre dài 24cm; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, trắng bị vỡ; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 thanh sắt dài 49cm có lõi hình tròn, đường kính 1,2cm; 01 cán dao bằng gỗ dài 11cm; 01 lưỡi dao bị gãy dài 7cm; 01 lưỡi lam bằng sắt, dài 4cm, ngang 2cm; 01 xe mô tô biển số 61F1-566.48 màu xanh tím đen.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương có thể trên người sống số 347/2023/KLGDD-TTPY ngày 08/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Xuân H1 tại thời điểm giám định là 11%.
Cáo trạng số 15/CT-VKSPG ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Tuấn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xử phạt bị cáo Trần Tuấn Đ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 15.000.000đ, bị hại đã nhận và không yêu cầu bồi thường thêm.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đũa tre dài 24cm; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, trắng bị vỡ; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 thanh sắt dài 49cm có lõi hình tròn, đường kính 1,2cm; 01 cán dao bằng gỗ dài 11cm; 01 lưỡi dao bị gãy dài 7cm; 01 lưỡi lam bằng sắt, dài 4cm, ngang 2cm.
Trong phần tranh luận, bị cáo Trần Tuấn Đ cho rằng Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng của bị cáo Trần Tuấn Đ: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện làm kinh tế để nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố bị hại, người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai và sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào 17giờ 00 phút ngày 06/4/2023 tại ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương bị cáo Trần Tuấn Đ có hành vi dùng lưỡi dao bị gãy (là hung khí nguy hiểm) đâm vào ngực trái và vùng mặt của bị hại Đinh Xuân H1 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11%.
[4] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ vào hành vi “dùng hung khí nguy hiểm” của bị cáo và tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đã truy tố bị cáo Trần Tuấn Đ tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc đến nhân thân, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo ra đầu thú, bị hại có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTPngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương là phù hợp cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.
[8] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp so với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án nên HĐXX chấp nhận.
[9] Các đối tượng Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức P, Trần Thị Bích T4, Nguyễn Ngọc L khi được T2 nhờ đi để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn với N2 thì không biết việc đánh chị Đinh Thị Na. Các đối tượng trên cũng không biết khi đi nói chuyện hòa giải với chị N2 thì Đ có đem theo con dao thái lan, khi sự việc xảy ra đã can ngăn, không tham gia đánh nhau Viện Kiểm sát không đề cập đến nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX không đề cập đến.
[11] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- - 01 chiếc đũa tre dài 24cm; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, trắng bị vỡ; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 thanh sắt dài 49cm có lõi hình tròn, đường kính 1,2cm; 01 cán dao bằng gỗ dài 11cm; 01 lưỡi dao bị gãy dài 7cm; 01 lưỡi lam bằng sắt, dài 4cm, ngang 2cm. Đây là hung khí sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô biển số 61F1-566.48 màu xanh tím đen. Đây là tài sản của Đinh Thị Kim T2 không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 13/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bà T2. Bà T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra xem xét
[12] Về án phí: Bị cáo Trần Tuấn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
- - Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- - Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tuấn Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 30/5/2024.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đề cập đến.
4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đũa tre dài 24cm; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, trắng bị vỡ; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 thanh sắt dài 49cm có lõi hình tròn, đường kính 1,2cm; 01 cán dao bằng gỗ dài 11cm; 01 lưỡi dao bị gãy dài 7cm; 01 lưỡi lam bằng sắt, dài 4cm, ngang 2cm.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Trần Tuấn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn Đ phạm tội cố ý gây thương tích
