Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 tháng 8 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Tuân.
  2. Bà Thân Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 213/2024/TLST-DS về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Nhà E, phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Nhà C, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị T có đơn đề nghi xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Vũ H đăng kết hôn với nhau ngày 17/11/2021 tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau một thời gian chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng trong cuộc sống, hay cãi vã và đã sống ly thân được 06 tháng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh L.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/01/2022 đang sinh sống cùng chị. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị đề nghị giao con cho chị chăm sóc nuôi dưỡng, chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị và con đang ở nhà bố mẹ đẻ chị và chị làm kinh doanh thời trang trẻ em, thu nhập bình quân 25.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Vũ H được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, báo làm việc, hòa giải nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc và không có quan điểm gì đối với nội dung vụ án.

* Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Tại Biên bản xác minh ngày 03/7/2024, tổ dân phố T, phường X thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cung cấp như sau: Chị T và anh H là vợ chồng, sinh sống tại địa phương, việc mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm rõ. Nay chị T xin ly hôn tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay,

Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do. HĐXX công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại toàn bộ các buổi tòa án triệu tập làm việc, các phiên hòa giải và các phiên tòa.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81,82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX xử như sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Vũ H.
  • + Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/01/2022. Không xem xét về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu.
  • + Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự đều có địa chỉ tại thành phố B. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, nên căn cứ vào quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung vụ án

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh H được triệu tập làm việc, hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng đã không đến Tòa án làm việc, hòa giải và không có quan điểm gì đối với yêu cầu của chị T, chứng tỏ anh H cũng không tha thiết đoàn tụ vợ chồng, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, cần thiết cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung:

[3.2.1] Về quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/01/2022. Xét đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T thì thấy, chị T có công ăn việc làm, chỗ ở ổn định và đang hiện đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi. Phía anh H, trong suốt quá trình Tòa án án giải quyết vụ án, không đến Tòa án làm việc khi Tòa án báo làm việc, hòa giải và không cung cấp ý kiến hay bất kỳ tài liệu gì cho Tòa án. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường và điều kiện tốt nhất cho cháu N, cần thiết giao cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N là phù hợp với quy định tại Điều 81,82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao.

[3.2.2] Về quyền thăm nom con chung: Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

[3.2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3.4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81,82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình của Hội đồng thẩm phán- TAND Tối cao;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Vũ H.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Kim N, sinh ngày 28/01/2022. Anh Nguyễn Vũ H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Vũ H thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0001894 ngày 08/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo thủ tục quy định.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Mạnh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trang - Hiếu "Ly hôn"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger