Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-PT

Ngày: 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Thẩm phán: 1. Ông Cao Việt Hoàng.

2. Bà Vương Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị: Nguyễn Văn T; sinh năm 1990; HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1968 và con bà: Lương Thị V, sinh năm 1969; vợ: Tống Thị Mai H, sinh năm 1990; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh B.

Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo khác không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 01/10/2023, tổ công tác Công an phường P, thành phố T tiến hành kiểm tra nhà Nguyễn Đức Q, sinh năm 1980 tại khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, phát hiện tại phòng tầng 3 phía sau có 04 đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, gồm: Nguyễn Đức Q (chủ nhà); Nguyễn Thanh S, Nguyễn Văn T và Bùi Lan A. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản làm việc, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa có chứa chất tinh thể màu trắng. Chất tinh thể màu trắng trên đĩa được cho vào 01 túi nilon màu trắng được niêm phong trong phòng bì thư ký hiệu K1 theo đúng quy định.

- 03 túi nilon màu trắng bên trong đều bám dính chất màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K2 theo đúng quy định.

- Ngoài ra, còn thu giữ 01 thẻ nhựa hình chữ nhật, 01 ống hút được quấn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 bật lửa màu đỏ, 01 loa màu đen nhãn hiệu Samsung và 02 đèn laze là các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý.

Cùng ngày 01/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q tại khu phố D, phường P, thành phố T: Kết quả đã phát hiện và thu giữ 01 điện thoại Iphone 6, màu trắng, không lắp thẻ sim. Tiến hành kiểm tra điện thoại không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Tiến hành kiểm tra nước tiểu của các đối tượng: Kết quả xác định: S, T, Lan A đều dương tính với chất ma tuý Ketamine và MDMA. Q dương tính với chất ma tuý Ketamine.

Ngày 01/10/2023, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, Q, S, T đã đầu thú và khai nhận hành vi cung cấp địa điểm, mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ cho Q, S, T và Lan A sử dụng ma tuý ngày 01/10/2023. Thịnh giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu xanh, lắp sim số 0974.005.150; S giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu xanh dương, lắp sim số 0856.911.111 S và T khai nhận đã sử dụng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc rủ nhau đi tổ chức sử dụng ma tuý.

Sau khi biết Q bị Công an bắt, ngày 17/01/2024, Nguyễn Đức A1, đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú về hành vi bán 01 túi ma tuý Ketamine cho Q ngày 01/10/2023. Đức A1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, đã qua sử dụng lắp sim số 0982.704.407. Đức A1 khai đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua bán ma tuý với Q.

Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đức A1 tại khu phố T, Đ, thành phố T. Kết quả đã phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ tầng 02 nhà Đức A1:

- Tại cửa sổ có 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng này được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K1 theo đúng quy định pháp luật.

- Tại vị trí trên nóc bàn học có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, bên trong có 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng; 03 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng này được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K2 theo đúng quy định pháp luật. Đức A1 khai nhận đây là ma tuý đá và ngựa (Methamphetamine) của Đức A1, tàng trữ mục đích để bán kiếm lời.

Tại Kết luận giám định số: 2036/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của phòng K Công an tỉnh B về số ma tuý thu giữ được của các đối tượng tại nhà Nguyễn Đức Q, kết luận:

“Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 có khối lượng 0,4028 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;

Chất màu trắng bám dính trong 03 (ba) túi nilon màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K2 là ma túy; Loại ma túy: Ketamine; Không xác định được khối lượng”.

Tại Kết luận giám định số: 401/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của phòng K Công an tỉnh B về số ma tuý thu giữ tại nhà Nguyễn Đức A1 khi khám xét khẩn cấp, kết luận:

“Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,0234 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine;

Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K2 gửi giám định có khối lượng là 0,3715 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine;

01 (một) viên nén màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu K2 gửi giám định có khối lượng là 0,0961 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine."

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ của Nguyễn Đức A1 là 0,4910 gam ma tuý Methamphetamine.

Tại Bản án số: 148/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh S, Nguyễn Đức Q, Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức A1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/5/2024 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 28/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01 với nội dung: Kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2024/HSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn về phần áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, xác định đầy đủ tư cách người tham gia tố tụng đối với Bùi Lan A, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án cụ thể như sau:

  1. Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự lập công chuộc tội quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T, chỉ xem xét áp dụng cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  2. Không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T và tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
  3. Xem xét xác định đầy đủ tư cách người tham gia tố tụng đối với Bùi Lan A.

Tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ sơn, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: án sơ thẩm xử bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, mức hình phạt 4 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù đối với bị cáo là nặng vì bị cáo chỉ là người hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã khẳng định, án sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng tuy nhiên án sơ thẩm áp dụng pháp luật cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không phù hợp, đối với chị Bùi Lan A án sơ thẩm xác định là người làm chứng là không chính xác, cần xác định chị Bùi Lan A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về hình phạt, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo T có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án nên án sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo 4 (Bốn) năm 6 (S1) tháng tù là phù hợp, không nặng, không nhẹ. Tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị HĐXX giữ nguyên hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên. Từ những phân tích trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến, tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo, quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn trong thời hạn pháp luật quy định nên được chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm

tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng hơn 01 giờ sáng ngày 01/10/2023, S gọi điện thoại rủ T đi sử dụng ma tuý. Sau đó, S gọi cho Q bảo Q mua ma tuý về để S và T cùng đến nhà Q để sử dụng. Q mua của 01 người đàn ông không quen biết tên Đ 01 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo (MDMA) với giá 2.100.000 đồng. Trong đó, S góp 1.300.000 đồng, Q góp 800.000 đồng. Khoảng 02 giờ 50 phút cùng ngày, tại nhà Q, Q và S đã tổ chức cho T, Bùi Lan A sử dụng trái phép chất ma tuý. Q cung cấp địa điểm, đĩa sứ, thẻ nhựa, bật lửa và ma tuý. S cung cấp ma tuý, xào ma tuý Ketamine cho Q, T, Lan A sử dụng, đưa ma tuý kẹo (MDMA) cho T, Lan A sử dụng. T đã tổ chức cho Q và Lan A sử dụng trái phép chất ma tuý. T đi tìm ống hút cho Q, S, Lan A sử dụng hít ma tuý Ketamine. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi S, Lan A, T sử dụng hết ma tuý. S bảo Q mua tiếp cho 01 chỉ ma tuý Ketamine. Q mua của Nguyễn Đức A1 01 túi nilon chứa ma tuý Ketamine với giá 1.000.000 đồng mục đích để Q, S, T, Lan A cùng tiếp tục sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, T hơ nóng đĩa sứ để S xào ma tuý Ketamine cho S, T và Lan A tiếp tục sử dụng. Các đối tượng sử dụng ma tuý đến hồi 18 giờ 05 phút cùng ngày thì bị Công an phường P, thành phố T kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng. Ngày 17/01/2024, Đức A1 đầu thú về hành vi bán trái phép 1.000.000 đồng ma tuý Ketamine cho Q. Ngoài ra, Đức A1 còn tàng trữ trái phép 0,4910 gam ma tuý Methamphetamine tại nhà ở của Đức A1 ở khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới để HĐXX xem xét. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T.

[4]. Xét các nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Từ Sơn: HĐXX thấy rằng:

Thứ nhất: Đối với kháng nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà chỉ xem xét áp dụng cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T có nộp thêm tài liệu thể hiện nội dung bị cáo đã “Cứu người đuối nước vào ngày 15/9/2023” (trước ngày thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo vào ngày 01/10/2023) được UBND phường T, thành phố T xác nhận, án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không chính xác. Bởi lẽ, “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử, người phạm tội không những ăn năn, hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt người phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận. Trong vụ án này bị cáo T cứu người đuối nước trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên chỉ áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp.

Thứ hai: Đối với kháng nghị không áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T. HĐXX xét thấy, mặc dù T không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng trong vụ án này T là đối tượng bị rủ rê sử dụng ma túy, bị cáo không chuẩn bị địa điểm, không góp tiền để mua ma túy... mà chỉ có hành vi giúp bị cáo S tìm ống hút và hơ đĩa nóng để cho S xào ma túy nên có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án. Do vậy, án sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 4 năm 6 tháng tù là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị nội dung này của Viện kiểm sát.

Thứ ba: Đối với kháng nghị xem xét xác định đầy đủ tư cách người tham gia tố tụng đối với Bùi Lan A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này Bùi Lan A

có thể tham gia tố tụng với tư cách vừa là người làm chứng vừa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì, Bùi Lan A là người biết được những tình tiết liên quan về vụ án, trực tiếp tham gia sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị xử phạt hành chính... Tuy nhiên, quá trình làm việc từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, Bùi Lan A đều không có bất kỳ khiếu nại hay yêu cầu gì đối quyền lợi của mình, bản thân không bị thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan do đó việc án sơ thẩm không xác định Bùi Lan A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án mà chỉ xác định là người làm chứng là đủ và đúng pháp luật.

Từ những phân tích, nhận định trên, HĐXX xét thấy chỉ có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

[6]. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/10/2023.

Áp dụng Điều 347 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 – CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam – CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQĐT; VKS; TAND tp. Từ Sơn;
  • - Bị cáo, người tham gia TT (qua đường công văn);
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự

  • Số bản án: 48/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger