Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 48/2023/HSST

Ngày 27-10-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hoa.
  2. Bà Nguyễn Thị Lâm.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký tòa án Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Tuyến - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm:

Những người tiến hành tố tụng:

  • - Ông Triệu Ngọc S - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • - Ông Đinh Trung S1 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Ông Đỗ Văn N cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm tổ chức tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và 01 điểm cầu thành phần tổ chức tại Trại tạm giam Công an tỉnh P đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, sinh năm 1976 tại Phú Thọ; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hùng S2 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H1; vợ, con: không có; tiền sự: Không; tiền án: 01 Tiền án (Bản án số 87/2020/HS-PT ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Xuân H 12 tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. H đã chấp hành xong hình phạt tại Trại giam T, ra trại ngày 05/10/2021. Án phí hình sự sơ thẩm đã nộp xong ngày 25/6/2021); nhân thân: 02 nhân thân (Bản án số 252/HSST ngày 23/10/2002 của Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, xử phạt Nguyễn Xuân H 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. H đã chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam T1, ra trại ngày 14/5/2004. Án phí hình sự sơ thẩm đã nộp xong ngày 08/4/2005; Ngày 27/4/2018 bị cáo bị Công an huyện phù N1 xử lý vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi mua số lô đề. Bị cáo đã nộp phạt ngày 01/7/2019); bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/6/2023 đến nay; hiện bị cáo bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/6/2023, tại bến đò thuộc khu H, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện N1 phát hiện bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) vỏ nilon của bơm tiêm y tế một lần loại 3ml/cc, bên trong chứa hai gói giấy gồm: 01 (một) gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu bạc, mặt trong màu trắng và 01 (một) gói giấy mặt ngoài in họa tiết, chữ tiếng việt, mặt trong màu trắng, bên trong cả hai gói giấy đều có chứa chất bột cục màu trắng (bị cáo khai nhận là heroin); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, trắng đã qua sử dụng gắn sim số 0333185725; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu trắng, đỏ biển số 52M1-5523, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện N1 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Bản kết luận số 851/KL-KTHS ngày 26/06/2023 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là: 0,122 gam, loại Heroin (H). có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/6/2023, bị cáo liên hệ với Ngô Quang H3, sinh năm 1982 nhà ở khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ rủ góp tiền mua ma túy Heroin về cùng sử dụng. H3 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, H3 và bị cáo đi đến cây xăng thuộc xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tại đây, H3 đưa cho bị cáo 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và bảo bị cáo đi sang tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma túy. Bị cáo cầm tiền rồi đưa lại H3 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Bị cáo một mình điều khiển xe mô tô biển số 52M1-5523 đi từ bến đò xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ sang địa phận tỉnh Vĩnh Phúc mua được của người một người nam giới không quen biết 02 (Hai) gói ma túy Heroin với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Trên đường về nhà, bị cáo rẽ vào hiệu thuốc mua một bơm kim tiêm y tế và nước cất. Bị cáo lấy một phần ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân, sau đó vứt bỏ kim tiêm ở ven đường. Số ma túy còn lại, bị cáo lấy vỏ bao ni lông của bơm kim tiêm gói hai gói ma túy còn lại mang về nhà. Khi bị cáo đi đến bến đò thuộc Khu H, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an huyện N1 yêu cầu kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 (hai) gói ma túy Heroin có đặc điểm cụ thể như nêu trên.

Tại cơ quan điều tra Công an Huyện N1 bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan CSĐT Công an huyện N1 đã triệu tập Ngô Quang H3 đến làm việc, H3 không thừa nhận việc đưa tiền và chỉ dẫn H đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, H3 khai: Khoảng 07 giờ ngày 23/06/2023, H3 nhận được tin nhắn của bị cáo hỏi có ở nhà không. Khi H3 gọi điện lại cho bị cáo thì bị cáo rủ H3 đi chơi nhưng H3 nói có việc bận nên không đi được. Đến khoảng 08 giờ 30 phút, bị cáo tiếp tục nhắn tin cho H3 để hỏi vay tiền, sau đó hai người có gọi một vài cuộc điện thoại nhưng nội dung không liên quan gì đến ma túy.

Ngày 24/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N1 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Quang H3 tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Cơ quan CSĐT Công an huyện N1 đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Xuân H và Ngô Quang H3 bằng que thử chất ma túy, kết quả bị cáo dương tính với chất ma túy H4; H3 âm tính với tất cả các chất ma túy có trên que thử.

Cáo trạng số: 41/CT-VKSPN ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Xuân H thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, trắng đã qua sử dụng của bị cáo.

Về xử lý vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện N1, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/6/2023, tại bến đò thuộc khu H, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép 0.122 gam ma túy với mục đích để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo H có nhân thân xấu. Bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 252/HSST ngày 23/10/2002. H đã chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam T1, ra trại ngày 14/5/2004. Án phí hình sự sơ thẩm đã nộp xong ngày 08/4/2005. Đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đương nhiên được xóa án tích đối với Bản án này; Ngày 27/4/2018 bị cáo bị Công an huyện phù N1 xử lý vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi mua số lô số đề. Bị cáo đã nộp phạt ngày 01/7/2019. Đến thời điểm phạm tội bị cáo đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, các trường hợp trên đều được coi là nhân thân của bị cáo.

Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngày 09/9/2020 Bị cáo đã bị kết án về tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do cố ý nên Bị cáo được coi là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Nhưng bị cáo có tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, trắng đã qua sử dụng. Do không chứng minh được chiếc điện thoại này của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại này là phù hợp.

Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 (Một) bì niêm phong số 851 /KLGĐ của Phòng K Công an tỉnh P. Bên trong có chứa 0,067 gam chất cục bột màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định: Là vật chứng của vụ án, là vật không có giá trị sử dụng, không sử dụng được và vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, trắng đã qua sử dụng thu giữ của H: Đã áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với sim số 0333185725 là sim số của bị cáo H: Bị cáo H không sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo không đề nghị lấy lại và sim số này không có giá trị sử dụng, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu trắng, đỏ biển số 52M1-5523 thu giữ của H: Đây là xe thuộc sở hữu của anh H2. Bị cáo mượn xe này của anh H2 (anh H2 là em trai bị cáo), việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy anh H2 không biết. Anh H2 có đề nghị xin lại chiếc xe nên cần trả lại cho anh H2 là phù hợp.
  • - Đối với Ngô Văn H5: Do không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh được hành vi phạm tội của H5 như lời khai của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 không xem xét xử lý H5 là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N1 không xem xét xử lý trong cùng vụ án này là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có đề nghị nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bị cáo H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, trắng đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Xuân H.

[2] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu tiêu hủy: với 01 (Một) bì niêm phong số 851 /KLGĐ của Phòng K Công an tỉnh P. Bên trong có chứa 0,067 gam chất cục bột màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0333185725.
  • Trả lại cho anh Nguyễn Xuân H2 xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu trắng, đỏ biển số 52M1-5523.
  • (Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh theo biên bản bàn giao ngày 03/10/2023)

[3] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Trong thời hạn 15 ngày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2023/HSST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 48/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger