Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 48/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/QÐST – HNGĐ ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Như N – sinh năm: 1999 (Có đơn xin xét xử vắng mặt) HKTT: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn H – sinh năm: 1994 (Vắng mặt) HKTT: thôn N, xã H, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn, biên bản lấy lời khai chị Bùi Như N là nguyên đơn trình bày: chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã H, năm 2018. Quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận, hạnh phúc thường xuyên va chạm, cãi vã và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không có cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Do cuộc sống không hòa thuận, hạnh phúc nên năm 2021, chị đã nộp đơn lên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đề nghị giải quyết ly hôn. Nhưng sau khi nghe Tòa án giải thích, khuyên can chị đã rút đơn về cố gắng hàn gắn tình cảm để các con có một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, từ đó cho tới nay, tình trạng vợ chồng không có gì thay đổi, thậm chí mâu thuẫn còn căng thẳng hơn. Đến năm 2023, anh chị lại sống ly thân, chị đưa 2 con về mẹ đẻ ở. Trong thời gian sống ly thân, cả hai vẫn luôn mâu thuẫn, cãi vã khi liên hệ với nhau. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Bùi Bảo A – sinh ngày: 26/7/2016 và Nguyễn Bùi Thiên A1 – sinh ngày 13/3/2020. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi 02 con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: chị N đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Tuy nhiên, anh H vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã H xác định: chị N và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, ngày 17/01/2018. Sau khi kết hôn, cuộc sống của anh chị hòa thuận không thấy điều tiếng gì. Theo nắm bắt tại địa phương thì thời gian gần đây, anh H và chị N xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân, chị N đưa 2 con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nguyên nhân cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ. Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Bùi Bảo A – sinh ngày: 26/7/2016 và cháu Nguyễn Bùi Thiên A1 – sinh ngày: 13/3/2020. Hiện các cháu đang ở cùng chị N. Quan điểm của chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và con nhỏ.

Tại phiên toà, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H. Về con chung: giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Nguyễn Bùi Bảo A – sinh ngày: 26/7/2016 và cháu Nguyễn Bùi Thiên A1 – sinh ngày: 13/3/2020. Về tài sản, công sức, công nợ chung: không không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Bùi Như N đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Nguyễn Văn H đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên toà hôm nay, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

[2] Về hôn nhân: Chị N và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị N trình bày là không hợp nhau, không có cùng quan điểm sống. Nay chị N nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên đã làm đơn xin ly hôn. Quá trình làm việc, Tòa án đã triệu tập anh H lên làm việc nhưng anh không lên và không có quan điểm trình bày. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2021, do vợ chồng mâu thuẫn, chị N đã làm đơn ly hôn tại Tòa án. Tuy nhiên, vì mong muốn hàn gắn nên chị đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Từ đó cho đến nay, cuộc sống vợ chồng vẫn không thay đổi, mẫu thuẫn vợ chồng theo chị vẫn diễn ra và ngày càng trầm trọng dẫn đến cuộc sống hôn nhân trở nên áp lực, mệt mỏi khiến chị phải đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống hôn nhân của anh H và chị N không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: chị N và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Bùi Bảo A – sinh ngày: 26/7/2016 và cháu Nguyễn Bùi Thiên A1 – sinh ngày: 13/3/2020. Chị N có quan điểm xin được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có quan điểm trình bày. Quan điểm của cháu Bảo A: xin được ở với mẹ N. Xét nguyện vọng của các đương sự, nguyện vọng của con nhỏ và tình hình thực tế cuộc sống của các cháu. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, hai con đều ở với chị N. Cháu Bảo A có nguyện vọng xin ở với mẹ; còn cháu Thiên A1 còn nhỏ chưa tự chăm sóc bản thân. Hơn nữa, cả hai cháu đều là con gái cần sự chăm sóc, giáo dục, chia sẻ của mẹ hơn. Trong quá trình làm việc, anh H không có quan điểm trình bày. Do đó, để ổn định cuộc sống và tâm lý của các con cần giao cho chị N trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bảo A và cháu Thiên A1 là phù hợp. Do chị N không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con nên cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H là phù có căn cứ.

[4] Về tài sản, công sức và công nợ: Chị N có quan điểm không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Như N;

  1. Chị Bùi Như N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H;
  2. Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Bùi Bảo A – sinh ngày: 26/7/2016 và cháu Nguyễn Bùi Thiên A1 – sinh ngày: 13/3/2020. Sau khi ly hôn, giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bảo A và cháu Thiên A1 cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

    “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

  3. Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Biên lai thu số 0011827 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thanh Minh

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger