TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HSST
Ngày: 27/09/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Lương Anh Xuân. |
- Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Quang Hoà. Ông Nguyễn Huy Hiển. |
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: | Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: | Ông Vũ Đức Tính - Kiểm sát viên. |
Trong ngày 27 tháng 09 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh T - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981; Nơi cư trú: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang V (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1944; Vợ: Lưu Thị T1 – sinh năm 1990 (Đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2009. Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản;
- Năm 2013, bị Tòa án khu vực Quân khu 4 xử phạt 12 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản;
- Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản;
- Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Nhân thân:
- Năm 2002, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Văn T2 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 6 năm 1987; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân H (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966; Vợ: Trần Thị D – sinh năm 1986, con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010 và con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình M – sinh năm 1970.
Trú tại: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình sinh sống tại địa phương, Trần Thanh T có quen biết với Nguyễn Văn T2. Trần Thanh T và Nguyễn Văn T2 đều sử dụng ma túy dạng hồng phiến. Thời gian trước khi bị bắt Trần Thanh T đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm tiền tiêu xài. Quá trình sử dụng chất ma túy thì Trần Thanh T nghe một số con nghiện nói tại khu vực bến xe thị xã T, tỉnh Nghệ An có một người đàn ông tên “N1”, khoảng 40 tuổi có bán ma túy dạng hồng phiến. Vào trưa ngày 26/5/2024, T đi bộ từ nhà ra cổng chào xóm B, xã N, huyện N và đi nhờ xe người đi đường đi ra thị xã T. Khi đến gần bến xe thị xã T, T xuống xe rồi đi bộ vào đường bê tông cạnh bến xe thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,65 mét, dáng người gầy, mặc áo khoác nắng màu đen, mặc quần bò màu xanh, T nói chuyện với người này thì người này giới thiệu tên “N1”, T nghĩ đây là người đàn ông tên “Ninh” mà các con nghiện đã nói đến nên đã hỏi mua hồng phiến của người này thì người này đồng ý bán ma túy cho T. T đã hỏi mua 12 (Mười hai) viên hồng phiến với giá 800.000 đồng. T đã đưa cho người này số tiền 800.000 đồng, người này cầm tiền rồi nói T đứng chờ và đi bộ rời đi. Khoảng 10 phút sau thì người này đi bộ quay lại và đưa cho T 01 gói được dán bên ngoài bằng băng dính màu đỏ, T mở ra xem thì thấy bên trong có 01 gói nilon màu vàng chứa 12 viên ma túy dạng hồng phiến nên đã gói lại và cất giấu vào túi quần phía trước bên phải và đi bộ ra đường Q. Sau đó T xin đi nhờ xe máy của người đi đường đi về đến xóm B, xã N, huyện N thì xuống xe và đi bộ về nhà.
Quá trình tìm mua ma túy thì Nguyễn Văn T2 nghe một số con nghiện nói Trần Thanh T có bán ma túy dạng hồng phiến nên khoảng 15 giờ 15 phút ngày 26/05/2024, Nguyễn Văn T2 sử dụng số thuê bao 0971514299 gọi điện đến số thuê bao 0876943616 của Trần Thanh T để hỏi mua ma túy. Khi gọi điện thì T2 hỏi mua của T 1.000.000 đồng tiền hồng phiến, khi đó thì Trần Thanh T chưa trả lời có hay không mà nói T2 đợi một lúc rồi T sẽ gọi lại. Khoảng 20 phút, Tình sử dụng số thuê bao 0972666748 gọi điện lại cho T2 nói đã có hồng phiến và báo cho T2 1.000.000 đồng mua được 12 viên thì T2 đồng ý. Trần Thanh T nói Nguyễn Văn T2 đi đến nhà T để lấy ma túy. Sau đó T lấy gói băng dính màu đỏ chứa 12 viên hồng phiến đã mua được cất giấu phía dưới lớp sỏi trong bình hoa màu nâu đặt sát cổng nhà T để bán cho T2. Sau khi T gọi lại thì T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, mang biển kiểm soát 37G1-753.20 đi đến nhà T và dựng xe máy ngoài đường rồi đi bộ vào sân nhà T, khi đó T cũng ở trong nhà đi ra sân gặp T2. T2 đưa cho T số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau khi cầm tiền thì T chỉ cho T2 gói hồng phiến để phía dưới lớp sỏi trong bình hoa màu nâu đặt sát cổng nhà T. Theo chỉ dẫn T2 đi ra bình hoa rồi bươi lớp sỏi ra lấy gói ma túy hồng phiến được gói bên ngoài bằng băng dính màu đỏ mà T đã cất giấu ở đó. Sau đó T2 cầm gói ma túy tại lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy để đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T2 đi về đến xóm Đ, xã N, huyện N thì bị tổ công tác Công an huyện N bắt quả tang, phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn T2 01 gói băng dính màu đỏ bên trong có chứa 01 gói nilon màu vàng chứa 12 viên dạng nén, màu hồng là ma túy Methamphetamine.
Tại kết luận giám định số 583/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 01/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu các viên dạng nén, màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T2 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,24g (Một phẩy hai mươi bốn gam).
Sau khi nhận thấy hành vi của mình là không thể trốn tránh được nên Trần Thanh T đã đến Công an huyện N để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 48/CT-VKSNgĐ ngày 03 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông tên “Ninh” đã bán số ma túy trên cho bị cáo Trần Thanh T do chưa xác minh được danh tính, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm q khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, 2 điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước ba điện thoại di động thu giữ của bị cáo và 01 chiếc xe máy; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp chỗ ở và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định Trần Thanh T biết được việc mua ma túy về bán lại cho các con nghiện là sẽ kiếm được lợi nhuận cao nên vào trưa ngày 26/05/2024, Trần Thanh T đi đến khu vực bến xe Thị xã T, tỉnh Nghệ An mua của người đàn ông giới thiệu tên “Ninh” 12 viên ma tuý hồng phiến với giá 800.000 đồng đem về nhà cất dấu để bán kiếm lời. Vào chiều ngày 26/5/2024 Nguyễn Văn T2 cần ma tuý sử dụng nên đã đến nhà T tại xóm B, xã N, huyện N mua của T 12 viên ma tuý tổng hợp (Methamphetamin) có trọng lượng 1,24 gam với giá 1.000.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn văn T3 về đến xóm Đ, xã N, huyện N thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamin) với tổng khối lượng là 1,24 gam (Một phẩy hai mươi bốn gam), mục đích T3 mua ma tuý là để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Trần Thanh T biết hành vi của mình không thể trốn thoát nên đã đến cơ quan Công an huyện N đầu thú. Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Thanh T thực hiện đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 điều 251 - Bộ luật hình sự. Hành vi thực hiện của bị cáo Nguyễn Văn T2 đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự, Bị cáo T sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến đó là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cũng được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo Trần Thanh T là người đang có tiền án, đã từng bị xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó để làm bài học để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mà còn tiếp tực phạm tội thể hiện tính coi thường pháp luật. Đối với bị cáo T2 mặc dù mua ma túy về sử dụng nhưng với số lượng lớn. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo ở mức án thật nghiêm khắc và áp dụng hình phạt tù, có thời hạn đối với các bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện N thu giữ: 01 gói ma túy, 01 máy điện thoại và 01 xe máy của Nguyễn Văn T2, hai điện thoại di động của Trần Thanh T. Số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T2 sau khi lấy mẫu gửi đi giám định, số ma túy còn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nay cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11, màu trắng - xanh, số Imei1: 864464049347399, Imei2: 864464049347381, bên trong có gắn 01 sim viettel có số ghi trên sim 8984048000303474866 thu giữ của Nguyễn Văn T2, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu vàng hồng, số Imei: 354838094516650, bên trong có gắn 01 sim Itel có số ghi trên sim 89840810008749554404 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno6 Z, màu đen, số Imei: 868311055566873, số I: 868311055566865, bên trong có gắn 01 sim V1 có số ghi trên sim 8984048000318123297 thu giữ của Trần Thanh T là công cụ phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, mang biển kiểm soát 37G1 - 753.20, xe đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T2 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán hoá giá sung công quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/05/2024.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/05/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, đựng trong phong bì thư do Công an huyện N ấn hành được đóng dấu niêm phong thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T2 và Trần Thanh T.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A11, màu trắng - xanh, số Imei1: 864464049347399, Imei2: 864464049347381, bên trong có gắn 01 sim viettel có số ghi trên sim 8984048000303474866 thu giữ của Nguyễn Văn T2, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu vàng hồng, số Imei: 354838094516650, bên trong có gắn 01 sim Itel có số ghi trên sim 89840810008749554404 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno6 Z, màu đen, số Imei: 868311055566873, số I: 868311055566865, bên trong có gắn 01 sim V1 có số ghi trên sim 8984048000318123297 thu giữ của Trần Thanh T và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, mang biển kiểm soát 37G1 - 753.20, xe đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T2 (Chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) thu giữ của bị cáo Trần Thanh T.
- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Thanh T và Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Anh Xuân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T + ĐP - "Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý"
