|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 7 năm 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trọng Điền, bà Võ Thị Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1969, nơi cư trú: Khóm H, TT Đ, huyện A, tỉnh An Giang;
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Bị đơn: Bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Phước T trình bày:
Ông T1 và bà H, tự tìm hiểu chung sống với nhau vào năm 2007, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Trong thời gian chung sống, ông và bà H có sinh 02 con chung tên Võ Nguyễn Ngọc Yến Y, sinh ngày 27/8/2007 và Võ Nguyễn Yến N, sinh ngày 01/4/2018, hiện các cháu đang sống chung với bà H. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà H; đồng ý giao con cho bà H tiếp tục nuôi dạy 02 on chung, không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung ông và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Võ Thị Kim H trình bày: Thống nhất với lời khai của ông T về thời gian, địa điểm chung sống, cũng như nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng. Xác định ông và bà H chung sống không đăng ký kết hôn, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên chấp nhận xin ly hôn của ông T. Về con chung, đồng ý nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên toà,
- Các đương sự vắng mặt.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị không công nhận ông T và bà H là vợ chồng. Về con chung, đề nghị giao con chung cho bà H nuôi dạy, công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Về tài sản chung, nợ chung ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân, ông T và bà H chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2007 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn nên không công nhận ông T và bà H là vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: 02 con chung Võ Nguyễn Ngọc Yến Y, sinh ngày 27/8/2007 và Võ Nguyễn Yến N, sinh ngày 01/4/2018, hiện đang sống chung với bà H. Các cháu có nguyện vọng được sống với bà H; để đảm bảo tinh thần học tập và nguyện vọng của các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho bà H tiếp tục nuôi dạy. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà H cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.
[6] Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân:
Không công nhận ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1969 và bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1983 là vợ chồng.
2. Về con chung:
Bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung Võ Nguyễn Ngọc Yến Y, sinh ngày 27/8/2007 và Võ Nguyễn Yến N, sinh ngày 01/4/2018, đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Phước T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003548 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; ông T đã nộp đủ án phí.
Bà Võ Thị Kim H không phải chịu án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết, ông Nguyễn Phước T và bà Võ Thị Kim H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1969 và bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1983 là vợ chồng
