TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 26- 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyên.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Thuật và ông Đỗ Xuân Chúc
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
- - Đại diện VKSND huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hoàng Minh Thế - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/4//2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Đinh Văn C, sinh năm 1996; HKTT: Xóm N, xã Th, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: Thôn Y, xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Đinh Văn D, sinh năm 1970 và bà Hà Thị Nh, sinh năm 1973; Bị cáo là con duy nhất; Vợ: Bàn Thị H, sinh năm 2000; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C: Bà Lê Thị Thanh Hiên - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
* Người làm chứng:
Ông Phạm Quang V, sinh năm 1954
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 27/12/2023, tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang Đinh Văn C sinh năm 1996, nơi thường trú: Xóm N, xã Th, huyện M, tỉnh Hòa Bình đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu tại mặt đường cạnh vị trí Đinh Văn C đứng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm chứa 05 viên nén đều màu hồng hình tròn, đường kính 0,5cm, dày 0,15cm (được niêm phong ký hiệu M1); tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu ghi, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao số 0399880436 (được niêm phong ký hiệu ĐT1). Ngoài ra, C còn chỉ dẫn, giao nộp 500.000 đồng là tiền C dùng để mua ma túy được giấu tại sọt rác cạnh sân bóng chuyền thôn Đ, xã Đ, huyện Y.
Ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y khám xét khẩn cấp chỗ ở tại thôn Y, xã Gi, huyện Y, tỉnh Hưng Yên của Đinh Văn C. Kết quả không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, Đinh Văn C khai nhận: C sử dụng ma túy tổng hợp hồng phiến (hay còn gọi là ngựa) từ tháng 01/2023 đến nay. Qua mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội, C được biết có 01 người đàn ông tên T ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y bán ma túy nên khoảng 21 giờ 45 phút ngày 27/12/2023, C đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu ghi, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao số 0399880436 gọi đến số điện thoại 0338.713.xxx của T hỏi: “có ngựa không, bán cho em mấy con” (ý C hỏi mua ma túy hồng phiến của T) thì T trả lời: “lúc nào có anh gọi”. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T gọi lại cho C bảo: “có ngựa rồi xuống đi” thì C trả lời: “vâng, bán em năm trăm” (tức là bảo T bán cho C 500.000 đồng ma tuý hồng phiến). Sau đó, C đi bộ từ phòng trọ ra khu vực đường QL5 thuê 01 người đàn ông lái xe ôm (không rõ nhân thân, lý lịch, biển số xe) chở đến điểm hẹn là vị trí cột điện sân bóng chuyền thôn Đ, xã Đ. Đến nơi, C bảo người lái xe ôm đỗ xe cách sân bóng chuyền khoảng 100m đợi còn C đi bộ đến cột điện ở sân bóng chuyền rồi gọi điện thoại cho T thì T bảo: “có 05 ngựa trong vỏ bao thuốc lá Thăng long, lấy thì để năm trăm vào sọt rác bên cạnh cho anh”. C tìm xung quanh cột điện thấy có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng, mở ra bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm chứa 05 viên nén đều màu hồng hình tròn, đường kính 0,5cm, dày 0,15cm. Biết đây là ma tuý hồng phiến T bán cho mình nên C đã lấy số tiền 500.000 đồng mang theo giấu vào sọt rác cạnh cột điện sân bóng chuyền để trả cho Trồi cầm vỏ bao thuốc lá chứa ma túy đi bộ ra vị trí người lái xe ôm đợi. Trên đường đi thì C bị lực lượng công an phát hiện, do lo sợ nên C đã vứt vỏ bao thuốc lá chứa ma túy xuống mặt đường cạnh vị trí C đứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Văn C, đồng thời thu giữ, niêm phong các vật chứng nêu trên. Tiến hành cho C chỉ dẫn vị trí mua ma tuý và giấu số tiền 500.000 đồng, kết quả: C đã chỉ dẫn, giao nộp số tiền 500.000 đồng giấu tại sọt rác cạnh cột điện sân bóng chuyền thôn Đ, xã Đ cho Cơ quan điều tra.
Tại bản Kết luận giám định số 133/KL-KTHS(MT) ngày 31/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng viên nén màu hồng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 0,455g, là ma túy, loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 133/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,435g ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 phong bì vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý; Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu ghi, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0399880436 đã thu giữ là tài sản của Đinh Văn C và số tiền 500.000 đồng đã thu giữ xác định là tiền của C dùng để trả tiền mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã nộp số tiền này vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện Y tại Kho bạc nhà nước Y chờ xử lý.
Đối với người đàn ông tên T, bị cáo C khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không phát hiện có tài liệu nào tại khu vực này phản ánh về nội dung trên, không xác định được đối tượng nào tên T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã gửi công văn tra cứu lịch sử liên lạc đối với số điện thoại của C và T tại Viettel Hưng Yên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, đề xuất xử lý sau.
Đối với người đàn ông lái xe ôm chở C đến địa điểm mua ma túy, do không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 45/CT-VKS-YM ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
- - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/12/2023;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án, án phí theo quy định.
- - Người bào chữa cho bị cáo bà Lê Thị Thanh Hiên nhất trí với quyết định truy tố và Luận tội của kiểm sát viên, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo vì là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- - Bị cáo nhất trí với bài bào chữa của bà Hiên, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 27/12/2023, tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Đinh Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,455g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng trong vụ án:
- - 01 phong bì niêm phong ghi số 133/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,435g Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 phong bì vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo C dùng để trả tiền mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu ghi, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0399880436 thu giữ của bị cáo C sử dụng để liên lạc giao dịch mua ma túy nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với người đàn ông tên T, bị cáo C khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng nào tên T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã gửi công văn tra cứu lịch sử liên lạc đối với số điện thoại của C và T tại Viettel Hưng Yên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, đề xuất xử lý sau.
Đối với người đàn ông lái xe ôm chở C đến địa điểm mua ma túy, do không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo và vợ bị cáo có đơn xin miễn án phí cho bị cáo nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ miễn án phí cho bị cáo.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ miễn án phí cho bị cáo.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 01 (Một) năm 05 ( Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đinh Văn C.
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu cho tiêu hủy 0,435g Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 phong bì vỏ niêm phong ký hiệu số 133/KL-KTHS (MT).
- - Tịch thu số tiền 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu ghi, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0399880436 của bị cáo C phát mại sung ngân sách Nhà nước.
(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và Công an huyện Y).
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn C.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo Đinh Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyên |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Cường Điều 249
