Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DS-ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Đặng Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ;
  2. Ông Trần Văn Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-DS ngày 28/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-DS ngày 11/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Quốc K và Luật sư Lê Thành Đ – thuộc Công ty L1 - Đoàn luật sư Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông L: Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12/10/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Ông Hồ Minh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Ông Hồ Minh T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Bà Hồ Thị Thanh T3, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • + Bà Hồ Thị Minh T4, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà G, bà T4 có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông S, ông T, bà T3 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, ông T2 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2022, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà V) trình bày:

Nguyên vào năm 1983 bà V cùng chồng là Nguyễn Minh C, sinh năm 1956 (đã chết năm 2016) có khai phá phần đất có diện tích 6.893m² thuộc thửa số 226, 227, 230, 231, 232, 233, 234, 236, 237 tờ bản đồ số 03 và được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/7/2002 cho hộ ông bà Nguyễn Minh C. Khu đất này gia đình bà V sử dụng ổn định, canh tác lúa và trồng cây lâu năm từ năm 1983 cho đến nay.

Vào tháng 5/2020 bà V làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất nói trên thì phát hiện khu đất có diện tích 465,1m² đang sử dụng trồng cao su hiện đang khai thác lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị K1 thửa 335, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thửa đất này được gia đình bà V khai phá và canh tác sử dụng từ năm 1983 cho đến nay. Bà V đã yêu cầu ông L, bà K1 hoàn trả lại phần đất trên nhưng không được. Do đó, bà V khởi kiện.

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2022 bà V yêu cầu ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 465,1m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2

Theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/11/2022 bà V yêu cầu ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 519,2m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa, bà V xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích là 49,3m². Bà V yêu cầu gia đình ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 469,9m² thuộc một phần thửa 238, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra, bà V không có ý kiến nào khác.

* Theo tự khai ngày 16/3/2022, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông L, bà K1, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông L (bà K1) trình bày:

Năm 1985 ông L, bà K1 có mua của bà Lê Thị P phần đất tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông L, bà K1 canh tác sử dụng phần đất này từ năm 1985 đến năm 1994 thì được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2003 ông L, bà K1 đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó phần đất có diện tích 15.353m² gồm các thửa 238, 255, 254, 253, 251, 250, 249, 248, 247, 246, 245, 244 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01298QSDĐ/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 11/7/2003 cho hộ ông, bà Hồ Văn L. Đất của ông L, bà K1 sát ranh đất của bà V. Từ đó cho đến nay thì gia đình ông L, bà K1 vẫn canh tác, quản lý phần đất của mình.

Nay bà V khởi kiện yêu cầu ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 519,2m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương thì ông L, bà K1 không đồng ý.

Tại phiên tòa, bà K1 thừa nhận bà V trồng cao su từ năm 2005 và quản lý sử dụng đến nay. Từ khi bà V trồng cao su đến khi bà V khởi kiện tranh chấp thì bà K1 không có ý kiến gì.

Ngoài ra, bà K1 không có ý kiến gì khác.

* Theo bản tự khai ngày 25/10/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà G, ông S, ông T trình bày:

Thống nhất ý kiến của bà V.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T3, bà T4 trình bày:

Thống nhất ý kiến của ông L, bà K1. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho ông T2 biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng ông T2 vẫn vắng mặt không có lý do.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

3

Ngày 11/01/2022 và ngày 01/11/2022 bà V khởi kiện yêu cầu ông L, bà K1 trả lại diện tích 519,2m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tại phiên tòa, bà V rút một phần yêu cầu khởi kiện, buộc hộ ông L, bà K1 trả lại diện tích 469,9m² thuộc một phần thửa 238, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, tôi cho rằng yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ. Thứ nhất, xét nguồn gốc đất theo biên bản xác minh ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thể hiện trước đó đất của bà V được cha mẹ để lại và đến năm 1983 bà V cùng chồng tiếp quản và khai phá, diện tích đất khai phá có tổng diện tích 6.893m², trong đó có thửa 335 có diện tích 465,1m² do hộ ông C trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 1983 trồng lúa, đến năm 2005 trồng cây cao su cho đến nay, hiện cây cao su vẫn còn trên đất, điều này chứng tỏ bà V đã canh tác, sử dụng đất ổn định lâu dài, không có ai tranh chấp. Theo biên bản xác minh ngày 13/10/2021 thể hiện phần đất bà V đang tranh chấp với hộ gia đình ông L, bà K1 có 28 cây cao su trồng năm 2005 do bà V trồng và quản lý, khai thác. Tại công văn số 235/PTNMT-QLDĐ ngày 15/6/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D đã trả lời thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Minh C và hộ ông Hồ Văn L đều được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T5 về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được cấp theo bản đồ địa chính chính quy năm 1999 không đo đạc thực tế. Do đó, tôi cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 335 cho hộ ông L có sự sai sót cấp chồng lấn giấy chứng nhận. Thứ hai, về quá trình sử dụng đất tranh chấp, căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/12/2022 của Tòa án vẫn thể hiện trên phần đất tranh chấp có 28 cây cao do bà V tự trồng, 01 cây bí bái tự mọc. Ngoài ra, tại biên bản xác minh ngày 25/3/2024 của Tòa án đối với địa phương xác định đất tranh chấp do bà V sử dụng để trồng cây, giữa bà V và bà K1, ông L không có tranh chấp gì chỉ đến khi bà V tiến hành đo đạc để đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên mới xảy ra tranh chấp, lời khai của bà V phù hợp quá trình sử dụng đất và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình giải quyết, bà K1 nộp cho Tòa án hai bản án dân sự mà hộ ông L tranh chấp đất với ông Nguyễn Văn P1 vào năm 2008 thể hiện diện tích đất tranh chấp chỉ có 83m² nhưng đối với diện tích tranh chấp với bà V thì lớn hơn nhiều nhưng từ năm 2005 khi bà V trồng cây cao su nhưng bà K1 không khởi kiện yêu cầu bà V trả đất mà đợi đến nay khi bà V khởi kiện mới yêu cầu bà V trả đất. Thứ ba, đầu năm 2024 ông L, bà K1 thanh lý cây cao su thì bà K1, ông L chỉ thanh lý cây cao su do bà K1, ông L trồng trên đất của bà K1, ông L nhưng không thanh lý luôn cây cao su trên đất tranh chấp. Căn cứ Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về xác lập quyền chiếm hữu thì người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó. Hộ gia đình ông C đã sử dụng đất ổn định liên tục từ năm 1983 cho đến nay không có tranh chấp gì. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông L là do sai sót của cơ quan Nhà nước. Tại khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai năm

4

2013 quy định “hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà V, buộc hộ gia đình ông L, bà K1 trả lại diện tích 469,9m² thuộc một phần thửa 238, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, sau khi nghe lời trình bày của các đương sự Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Bà V khởi kiện ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 469,9m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đất tranh chấp tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, ông T2 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; ông S, ông T, bà T3 có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T1, ông T2, ông S, ông T, bà T3.

[2] Nội dung vụ án: Nguyên vào năm 1983 bà V cùng chồng là Nguyễn Minh C, sinh năm 1956 (đã chết năm 2016) có khai phá phần đất có diện tích

5

6.893m² thuộc thửa số 226, 227, 230, 231, 232, 233, 234, 236, 237 tờ bản đồ số 03 và được Ủy ban nhân dan huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/7/2002 cho hộ ông bà Nguyễn Minh C. Khu đất này gia đình bà V sử dụng ổn định, canh tác lúa và trồng cây lâu năm từ năm 1983 cho đến nay. Vào tháng 5/2020 bà V làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất nói trên thì phát hiện khu đất có diện tích 465,1m² đang sử dụng trồng cao su hiện đang khai thác lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị K1 thửa 335, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thửa đất này được gia đình bà V khai phá và canh tác sử dụng từ năm 1983 cho đến nay. Nên bà V khởi kiện yêu cầu ông L, bà K1 trả lại phần đất có diện tích 469,9m² thuộc thửa số 335 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Trước yêu cầu khởi kiện của bà V thì ông L, bà K1 không đồng ý.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 93-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thì phần đất tranh chấp có diện tích 519,2m² trong đó có 469,9m² CLN (có 112m2 CLN thuộc HLATĐB) thuộc một phần thửa 238 và 49,3m² LUK thuộc một phần thửa 234. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/12/2022 thì trên phần đất tranh chấp có 28 cây cao su trồng năm 2005 do bà V trồng. Gia đình bà V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00422 QSDĐ/QĐ-UB ngày 25/7/2002 do UBND huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Nguyễn Minh C các thửa đất số 226, 227, 230, 231, 232, 233, 234, 236, 237 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01298 QSDĐ/QĐ-UB ngày 11/7/2003 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Hồ Văn L trong đó có thửa đất số 238.

Tuy nhiên, theo Công văn số 235/PTNMT-QLDĐ ngày 15/6/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00422 QSDĐ/QĐ-UB ngày 25/7/2002 do UBND huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Nguyễn Minh C và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01298 QSDĐ/QĐ-UB ngày 11/7/2003 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Hồ Văn L đều được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T5 về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được cấp theo bản đồ địa chính chính quy năm 1999 không đo đạc thực tế.

Theo biên bản xác minh tại ấp Đ, xã L thì địa phương cho biết nguồn gốc phần đất mà bà V đang sử dụng là do khai phá năm 1983, còn nguồn gốc đất bà K1, ông L đang sử dụng là do mua lại của bà Lê Thị P. Trước đây ranh đất giữa đất bà V và đất ông L, bà K1 là con đường chân tự mở. Sau này địa phương làm đường cho dân đi thành đường sỏi đỏ như hiện nay. Phần đất hiện nay bà V và ông L, bà K1 đang tranh chấp thì do bà V sử dụng từ nào giờ và trồng cây cao su trên đất, quản lý, sử dụng từ trước đến nay không có ai tranh chấp phần đất này.

6

Đến khi bà V làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hai bên mới xảy ra tranh chấp.

Vào năm 2008 khi bà K1, ông L khởi kiện ông Nguyễn Văn P1 tranh chấp ranh đất thì thời điểm này bà V đã trồng cao su trên đất, nhưng ông L, bà K1 không có ý kiến hay tranh chấp gì.

Đồng thời, theo bản vẽ kèm theo Bản án số 63/2010/DSST ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và Bản án số 116/2011/DSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thể hiện thì thời điểm ông L, bà K1 tranh chấp với ông Nguyễn Văn P1, đất của ông C giáp đường đất (nay là đường sỏi đỏ) và đất của ông L, bà K1 ở hướng Đ. Điều này cho thấy phần đất mà bà V và ông L, bà K1 đang tranh chấp hiện nay hoàn toàn không nằm trong phần đất sử dụng mà ông L, bà K1 xác định khi tranh chấp với ông P1.

Tại phiên tòa, bà K1 thừa nhận khi bà V trồng cao su từ năm 2005 và quản lý sử dụng cho đến nay thì bà K1 không có ý kiến gì.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của bà V là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa, bà V xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích là 49,3m² nên đình chỉ.

[4] Chi phí đo đạc, thẩm định: Chi phí đo đạc, thẩm định 6.011.000 đồng và chi phí định giá 700.000 đồng. Bà V đã nộp. Ông L, bà K1 phải thanh toán lại cho bà V.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Ông L, bà K1 thuộc trường hợp người cao tuổi tuy nhiên ông L, bà K1 không làm đơn xin miễn tiền án phí nên ông L, bà K1 phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 164, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 166, 203 Luật đất đai 2013.

7

  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp quyền sử dụng đất” của bà Nguyễn Thị V đối với ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị K1.

Buộc ông Hồ Văn L, bà Nguyễn Thị K1, ông Hồ Minh T1, ông Hồ Minh T2, bà Hồ Thị Thanh T3 và bà Hồ Thị Minh T4 trả lại cho bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Cẩm G, ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Thanh T phần đất có diện tích 469,9m² CLN (có 112m² CLN thuộc HLATĐB) thuộc một phần thửa 238 tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tứ cận:

Hướng Bắc giáp thửa 312,

Hướng Nam giáp thửa 334,

Hướng Đông giáp đường giao thông nông thôn và thửa 334,

Hướng Tây giáp thửa 234

(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Sau khi bản án có hiệu lực, các đương sự có quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với bản án.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V đối với ông Hồ Văn L, bà Nguyễn Thị K1 đối với phần đất có diện tích 49,3m².

3. Chi phí đo đạc, định giá: Chi phí đo đạc, thẩm định 6.011.000 đồng (sáu triệu không trăm mười một nghìn đồng) và chi phí định giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Bà V đã nộp. Ông L, bà K1 phải thanh toán lại cho bà V.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Hồ Văn L, bà Nguyễn Thị K1, ông Hồ Minh T1, ông Hồ Minh T2, bà Hồ Thị Thanh T3 và bà Hồ Thị Minh T4 chịu án phí 16.446.500 đồng (mười sáu triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

8

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thùy Linh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị V - Hồ Văn L, Nguyễn Thị K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger