Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/DS-ST

Ngày 25 tháng 8 năm 2023

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trọng Điền và ông Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 90/2023/TLST-DS ngày 06/6/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-DS ngày 25/7/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (B); trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Thành Đ, chức vụ: Trưởng phòng quản lý rủi ro; địa chỉ liên lạc: Số A Q, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 770 ngày 07/4/2023 của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ1) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971, nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Đ1 – chi nhánh B1 và ông Nguyễn Văn L đã ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 01/2017/10404128/HĐTD ngày 30/10/2017. Theo đó ông L vay số tiền 100.000.000 đồng; mục đích vay để phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất cho vay: 10.5%/năm; lãi suất được điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần vào ngày 01 của kỳ điều chỉnh lãi suất, ngày điều chỉnh lãi suất của kỳ đầu tiên là ngày 01/5/2018. Các kỳ điều chỉnh lãi suất tiếp theo sẽ được Ngân hàng thông báo nếu có thay đổi. Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 30/10/2017 đến ngày 31/10/2022. Phương thức trả nợ gốc và lãi vào ngày 05 hàng tháng, trả 60 kỳ, kỳ thứ 01 bắt đầu từ ngày 05/12/2017 đến kỳ thứ 60 là ngày 31/10/2022.

Vay theo hình thức vay tín chấp, không có thế chấp tài sản, nguồn trả nợ của khách hàng cam kết trích lương và phụ cấp tại xí nghiệp Điện nước huyện C.

Từ khi giải ngân ngày 30/10/2017 đến ngày 09/11/2022, ông L đã thanh toán được số tiền 95.615.239 đồng. Từ ngày 05/4/2021 khoản vay đã chuyển nợ quá hạn do ông L không có khả năng chi trả.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông L trả số tiền tạm tính đến hết ngày 24/8/2023 gồm vốn, lãi là 33.690.316 đồng trong đó nợ gốc 22.860.000 đồng; lãi trong hạn 8.538.402 đồng; lãi quá hạn 2.246.914 đồng. Đồng thời tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 25/8/2023 cho đến khi ông L trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không tham gia tố tụng tại Tòa án; Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định.

Theo biên bản xác minh tại ban Á thuộc xã B cho biết: Ông Nguyễn Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Hiện nay ông L đi đâu, làm gì địa phương không nắm. Trước đây ông L có làm việc tại Xí nghiệp nước huyện C.

Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông L trả số tiền tạm tính đến hết ngày 24/8/2023 vốn, lãi là 33.690.316 đồng trong đó nợ gốc 22.860.000 đồng; lãi trong hạn 8.538.402 đồng; lãi quá hạn 2.246.914 đồng. Đồng thời tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 25/8/2023 cho đến khi ông L trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định tại các Điều 48, 195, 196, 198 và Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt BLTTDS). Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ; bị đơn mặc dù đã được tống đạt nhiều lần nhưng không đến Tòa tham gia xét xử. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS.
  • + Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, việc thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tạm tính đến hết ngày 24/8/2023 là 33.690.316 đồng trong đó nợ gốc 22.860.000 đồng; lãi trong hạn 8.538.402 đồng; lãi quá hạn 2.246.914 đồng. Đồng thời, ông L phải trả lãi phát sinh từ ngày 25/8/2023 với lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi ông L trả dứt nợ cho Ngân hàng là có căn cứ.

Đối với bị đơn ông L mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý, triệu tập hợp lệ hòa giải nhưng ông cố tình né tránh, không cung cấp tài liệu chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc ông L không đến, không ý kiến thể hiện ông đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 70, Điều 91 BLTTDS, nên ông phải chịu trách nhiệm về yêu cầu cũng như chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp.

Từ những cơ sở phân tích trên. Căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, 8 Nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Nguyễn Văn L có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang nhưng Hợp đồng được thực hiện thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

[3] Về xác lập hợp đồng vay tài sản, vốn vay và lãi vay:

Xét Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 01/2017/10404128/HĐTD ngày 30/10/2017 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Ngân hàng cho ông L vay số tiền 100.000.000 đồng; mục đích vay để phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất cho vay: 10.5%/năm; lãi suất được điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần vào ngày 01 của kỳ điều chỉnh lãi suất, ngày điều chỉnh lãi suất của kỳ đầu tiên là ngày 01/5/2018. Các kỳ điều chỉnh lãi suất tiếp theo sẽ được Ngân hàng thông báo nếu có thay đổi. Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 30/10/2017 đến ngày 31/10/2022. Phương thức trả nợ gốc và lãi vào ngày 05 hàng tháng, trả 60 kỳ, kỳ thứ 01 bắt đầu từ ngày 05/12/2017 đến kỳ thứ 60 là ngày 31/10/2022.

Thực hiện hợp đồng ông L đã nhận đủ số tiền; sau đó không thực hiện đúng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông L trả nợ vốn, lãi tạm tính đến hết ngày 24/8/2023 là 33.690.316 đồng trong đó nợ gốc 22.860.000 đồng; lãi trong hạn 8.538.402 đồng; lãi quá hạn 2.246.914 đồng. Đồng thời phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng từ ngày 25/8/2023 cho đến khi xét xử và trả nợ xong là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Kể từ ngày 25/8/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 841.000 đồng.

Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.684.500 đồng.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (B).

    Buộc ông Nguyễn Văn L trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền vốn, lãi tính đến hết ngày 24/8/2023 tổng cộng 33.690.316 đồng trong đó nợ gốc 22.860.000 đồng; lãi trong hạn 8.538.402 đồng; lãi quá hạn 2.246.914 đồng.

    Kể từ ngày 25/8/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 841.000 đồng theo biên lai số 0003320 ngày 06 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu.

    Ông Nguyễn Văn L phải chịu 1.684.500 đồng.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2023/DS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 48/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .....
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger