Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TỦA CHÙA

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày 25-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhung và bà Sùng Thị Sua.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 11/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn A H - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989 tại huyện TC, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: làm nương; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tẩn A H - sinh năm 1971 và bà Phàn Thị N (đã chết); Vợ là Tẩn Thị I - Sinh năm 1990; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án. Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Uỷ ban nhân dân xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Người đại diện theo pháp luật: ông Giàng A Sang - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phàn A D - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Cộng đồng thôn HS1, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Người đại diện: Ông Phàn A Kh - Trưởng thôn HS1, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

+ Cộng đồng thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Người đại diện: Ông Phàn A P - Trưởng thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

+ Ông Tẩn A H, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

+ Ông Vàng A N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn Làng Sảng, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình bị cáo có 01 mảnh đất nương cũ đã bỏ hoang cách đây khoảng 07 năm, trên đất cây đã mọc thành rừng, tại khu vực Pò Pày thuộc thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp nên ông Tẩn A H là bố của bị cáo có bảo bị cáo đi phát đám nương cũ của gia đình để canh tác. Vào khoảng tháng 09 năm 2023 bị cáo một mình mang theo một con dao phát đi vào đám nương cũ của gia đình. Khi đến nơi bị cáo dùng dao chặt phá những cây nhỏ trong khoảng thời gian 20 ngày, sau đó bị cáo mượn máy cưa của anh Vàng A N, sinh năm 1986, cư trú tại thôn Huổi Só 2, cưa hạ những cây to và cắt cây thành nhiều khúc trong thời gian 01 ngày. Sau khi cây khô bị cáo đã đốt, chưa dọn và chưa trồng cây trên đất. Đến tháng 01/2024 thì bị cơ quan chức năng phát hiện.

Tại biên bản kiểm tra hiện trường ngày 17/01/2024 và biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/01/2024 đã xác định được diện tích rừng bị phá là 6.900m², gỗ thuộc nhóm gỗ VI, VIII, khối lượng gỗ thiệt hại là 3,818 m³, củi tận thu là 5,181 ster.

Xem xét vị trí, sử dụng máy định vị GPS xác định tọa độ các góc: X:546629 - Y:2438909. Đối chiếu bản đồ giao đất giao rừng, quyết định giao đất giao rừng, trích lục bản đồ địa chính xã Huổi Só, xác định khu vực rừng do bị cáo Tẩn A H chặt phá thuộc lô 21 và lô 23, khoảnh 1, tiểu khu 547 đã được quy hoạch rừng phòng hộ theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 của UBND tỉnh Điện Biên, Quyết định số 2290/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 của UBND huyện Tủa Chùa về giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng thôn Huổi Só 1 + 2, xã HS, huyện TC quản lý, bảo vệ.

Vật chứng thu giữ gồm: thu giữ của bị cáo 01 con dao phát; Đối với số cây gỗ bị chặt phá còn lại Cơ quan điều tra đã bàn giao cho UBND xã Huổi Só quản lý tại hiện trường.

Tại bản kết luận giám định số 07/KL ngày 06/4/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên kết luận: Diện tích bị chặt phá là 6.900m², nằm trong tiểu khu 547 khoảnh 1, lô 21 và lô 23, là rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (ký hiệu TXK), thuộc rừng phòng hộ được giao cho cộng đồng thôn Huổi Só 1 và thôn Huổi Só 2, xã Huổi Só quản lý, bảo vệ.

Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tủa Chùa kết luận: Giá thị trường tại thời điểm tháng 09/2023 của 6.900m² rừng phòng hộ tại tiểu khu 547 khoảnh 1 lô 21 và 23 là: gỗ nhóm VI, VIII có giá trị 3,818m³ x 300.000 đồng/m³ = 1.145.400 đồng; củi tận thu là 5,181 ster x 100.000 đồng/ster = 518.100 đồng; Tổng giá trị thiệt hại là 1.663.500 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng); Không xác định được giá trị thiệt hại về tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và thiệt hại về tác động môi trường rừng.

Nguyên đơn dân sự UBND xã Huổi Só yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho nhà nước theo kết luận định giá tài sản là 1.663.500 đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phá rừng của mình, mục đích bị cáo phá rừng là để làm nông nghiệp, nguồn gốc đám rừng chặt phá là đám nương cũ trước đây của gia đình tự khai hoang không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bị cáo không biết khu vực chặt phá làm nương đã được quy hoạch vào rừng phòng hộ. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường 1.663.500 đồng theo yêu cầu của Nguyên đơn dân sự tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa để nộp vào ngân sách nhà nước.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tẩn A H, có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bảo bị cáo đi phát nương cũ của gia đình để sản xuất nông nghiệp những ông cũng không biết diện tích nương cũ của gia đình đã được quy hoạch vào rừng phòng hộ năm 2015; Cộng đồng thôn HS2, xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên. Người đại diện ông Phàn A Póng – Chức vụ: Trưởng thôn Huổi Só 2 trình bày Cộng đồng dân thôn Huổi Só 2 được UBND huyện Tủa Chùa giao bảo vệ đối diện tích rừng bị chặt phá 6.900m² tại tiểu khu 547 khoảnh 1, lô 21 và lô 23 và hàng năm được chi trả chế độ môi trường rừng theo quy định.

Cáo trạng số 23/CT-VKSHTC ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa đã truy tố bị cáo Tẩn A H về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tẩn A H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo về tội "Hủy hoại rừng";

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Đề nghị công nhận bị cáo đã bồi thường xong số tiền gây thiệt hại về rừng cho nhà nước; Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao phát thu giữ của bị cáo và đề nghị miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Nguyên đơn dân sự chấp nhận việc bồi thường của bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì bổ sung.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vàng A N; Xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo một mình dùng dao và máy cưa để phát, chặt, phá cây rừng trong khoảng thời gian 21 ngày với mục đích để có đất làm nông nghiệp; Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án như: Biên bản kiểm tra hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định khối lượng, nhóm gỗ, kết luận định giá tài sản, kết luật giám định loại rừng, bản đồ quy hoạch rừng, hồ sơ giao đất, giao rừng, Quyết định giao đất, giao rừng, danh sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng...

Có đủ cơ sở kết luận, vì muốn có đất để làm nương nên trong khoảng thời gian 21 ngày trong tháng 09/2023, bị cáo Tẩn A H đã đã một mình dùng dao phát và mượn máy cưa của anh Vàng A N, sinh năm 1986, cư trú tại thôn Huổi Só 2, xã Huổi Só để phá rừng trái phép tại lô 21 và lô 23, khoảnh 1, tiểu khu 547 là khu vực rừng phòng hộ được giao cho cộng đồng thôn Huổi Só 1 và thôn Huổi Só 2, xã Huổi Só quản lý, bảo vệ; Diện tích bị chặt phá là 6.900m², gây thiệt hại về giá trị lâm sản theo định giá là 1.663.500 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý chặt phá rừng phòng hộ với diện tích 6.900m²,

Hành vi phá rừng trái pháp luật của bị cáo đã phạm vào tội "Hủy hoại rừng", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự ("c, Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông đến dưới 7.000 mét vuông").

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về các tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện nộp cho cơ quan Thi hành án dân sự số tiền 1.663.500 đồng theo yêu cầu của UBND xã Huổi Só để bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho nhà nước, do đó áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài phạm tội lần này bị cáo chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú (UBND xã Huổi Só xác nhận ngày 10/6/2024), bố bị cáo là ông Tẩn A H được UBND xã Huổi Só tặng nhiều giấy khen trong quá trình công tác và đã có nhiều thành tích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc, được bộ Công an tặng kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc, nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên thấy không cần thiết phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, mà áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, cũng như tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa lỗi lầm.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về bồi thường dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã giao nộp số tiền 1.663.500 đồng cho cơ quan Thi hành án dân sự để bồi thường cho nhà nước theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự, tại phiên tòa nguyên đơn dân sự đồng ý và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 con dao phát thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội, là tài sản không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với các cây gỗ tạp bị cáo đã chặt phát còn lại thuộc các nhóm gỗ VI, VIII, vẫn đang giữ nguyên trên diện tích rừng bị chặt phá do UBND xã Huổi Só đang quản lý, xét các cây gỗ không có giá trị để sử dụng làm gỗ thương mại nên cần để lại trên rừng cho tự hủy hoại để bồi bổ đất, tái sinh rừng.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tẩn A H phạm tội "Hủy hoại rừng".

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Tẩn A H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo.

3. Về bồi thường dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Tẩn A H phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự UBND xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên số tiền 1.663.500 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Tẩn A H đã bồi thường xong toàn bộ số tiền gây thiệt hại về rừng cho nhà nước số tiền 1.663.500 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng). Số tiền trên cơ quan thi hành án dân sự đang quản lý theo biên lai thu tiền số 0001915 ngày 13/5/2024 của cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa.

4. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phát có kích thước 110cm, phần lưỡi dao dài 28,2cm, chuôi dao dài 12,9cm, phần lưỡi dao sắc, mũi dao tù, cán dao bằng gỗ dài 82,3cm trong đó 12 cm được cắm vào chuỗi dao, dao cũ đã qua sử dụng và bao tải xác rắn màu cam dùng niêm phong vật chứng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên).

5. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.

6. Kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án, Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2024), đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tủa Chùa;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện Tủa Chùa;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Tủa Chùa;
  • - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên;
  • - THADS huyện Tủa Chùa;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, HSTHA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thanh Tuấn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sùng Thị Sua

Nguyễn Thị Nhung

Bùi Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - hủy hoại rừng

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tẩn A H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã HS, huyện TC, tỉnh Điện Biên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Áp dụng điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger