|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 4 - 2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ánh và ông Phạm Thanh Trà.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 655/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T – sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Khu phố H, phường A, thị xã T, Tây Ninh
Bị đơn: Anh Đỗ Văn H – sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Tổ D, ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011 và được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/02/2011. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, do anh H không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau, tình cảm dần phai nhạt. Từ năm 2012, vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Đỗ Hoàng P – sinh ngày: 03/02/2012.
Từ khi chị và anh H ly thân nhau đến nay, cháu P do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình nuôi dưỡng con thì chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tốt.
Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, chị đang làm công nhân tại địa phương, thu nhập hàng tháng khoảng 8.000.000đ, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đối với anh Đỗ Văn H: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập anh H đến Tòa án làm việc nhưng anh H không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.
Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị T và anh H đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Đỗ Văn H.
+ Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Hoàng P – sinh ngày: 03/02/2012 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh H nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Bùi Thị T phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Đỗ Văn H. Anh H đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2]. Chị Bùi Thị T và anh Đỗ Văn H là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị T và anh H kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 28/02/2011. Nay chị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh H nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết.
[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/02/2011. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T yêu cầu ly hôn với lý do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh H không lo làm ăn và không chăm lo cho gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập anh H đến Tòa án để hòa giải nhưng anh H không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của anh H không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc và đã sống ly thân nhau.
Xét thấy hôn nhân của chị T và anh H trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T là cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn H.
[3.2]. Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Đỗ Hoàng P – sinh ngày: 03/02/2012.
Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Xét thấy, bản thân chị T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị T và anh H sống ly thân đến nay, cháu P sống cùng chị T và được chị T chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt. Ngoài ra, cháu P cũng có nguyện vọng sống cùng với chị T. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đỗ Hoàng P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh H nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Bùi Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T. Cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Đỗ Văn H.
2. Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Đỗ Hoàng P – sinh ngày: 03/02/2012.
Giao con chung cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012840 ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
5. Quyền kháng cáo: Chị T và anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Lợi |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
