Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DSST

Ngày: 24/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 396/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 396/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S ; Trụ sở: Số A đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – chức danh: Nhân viên; địa chỉ liên hệ: Số F đường T, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (theo Giấy ủy quyền số 443/2024/UQ-SVN ngày 01/02/2024 của Giám đốc Công ty). (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Cần Thanh T1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số K đường T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các đơn trình bày gửi cho Tòa án của nguyên đơn thể hiện: Vào ngày 09/06/2021, ông Cần Thanh T1Công ty TNHH S1 (nay đổi tên thành Công ty Cổ phần S tiền có ngay) Tiền Có Ngay có ký hợp đồng cầm cố tài sản theo hợp đồng số: QNM210601008NA18X số đăng ký Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ thì ông T1 có ký hợp đồng cầm cố tài sản là: 01 xe máy biển kiểm soát: 43D1-848.57, Loại xe: Honda SH Mode 125cc; màu: Trắng Nâu, Số khung: RLHJF5145GY115318 số máy: JF51E0626907; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 065807 Do Công an Quận T cấp ngày 17/03/2020. Để lấy số tiền là 28.500.000đ; thời hạn cầm cố là 18 tháng (từ 09/06/2021 - 09/12/2022) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông T1. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho ông T1 mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 09/06/2021 đến 09/07/2021 địa điểm trả xe là tại chi nhánh Q 01. Ông T1 có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”. Quá trình trả nợ, ông T1 chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty chúng tôi, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 680 ngày, ông T1 không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty Cổ phần S Có Ngay yêu cầu Tòa án buộc ông Cần Thanh T1 phải trả số tiền 46.154.000đ trong đó, tiền gốc là 20.564.816đ, tiền lãi là 1.479.376đ, phí quản lý hồ sơ và hao mòn tài sản là 6.051.993đ và phí trễ hạn là 18.057.094₫ (tạm tính đến ngày 21/11/2023). Ngoài ra, yêu cầu ông Cần Thanh T1 phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh cho hợp đồng cầm cố đã ký kết kể từ ngày 10/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp, ông Cần Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì buộc ông T1 phải trả lại chiếc xe máy biển số: 43D1-848.57, Loại xe: Honda SH Mode 125cc, Số khung: RLHJF5145GY115318, Số máy: JF51E0626907, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Q 01 - Công ty TNHH S1 số QNM210601008NA18X ngày 09/06/2021.

* Bị đơn là ông Cần Thanh T1 mặc dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng ông T1 vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm: tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà, của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật. Bị đơn được tống đạt thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng không chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung đề nghị: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay. Buộc bị đơn ông Cần Thanh T1 phải trả cho Công ty Cổ phần S Tiền Có Ngay tổng số tiền: 39.197.185₫ trong đó tiền gốc: 20.564.816đ, lãi: 1.479.376đ, tiền phí quản lí tài sản: 6.051.993đ, tiền phí trễ hạn: 11.200.000đ (tạm tính đến ngày 24/5/2024).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp pháp luật trong tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Cần Thanh T1 có địa chỉ tại: Số K đường T, phường X, quận T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông T1 phải giao trả lại chiếc xe máy mà ông đã cầm cố, phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S1 (nay đổi tên thành Công ty Cổ phần S tiền có ngay) (được gọi tắt là Công ty), trường hợp không thể trả lại xe cầm cố, ông T1 có nghĩa vụ phải thanh toán cả gốc lẫn lãi thông qua hợp đồng cầm cố tài sản. Vì vậy đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng cầm cố theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015; đây là tranh chấp phát sinh trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nguyên đơn đã đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án. Đối với bị đơn ông T1 không đến Tòa án làm bản tự khai cũng như vắng mặt tại các lần Tòa án triệu tập. Tòa án đã gửi giấy triệu tập qua đường bưu điện; niêm yết nơi cư trú của ông T1 để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chỉ có nguyên đơn có mặt còn bị đơn vắng mặt không có lý do nên Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T1.

[2] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện: Xét yêu cầu nguyên đơn buộc ông T1 phải giao trả lại chiếc xe máy hiệu Honda SH Mode 125cc màu trắng nâu biển kiểm soát 43D1-848.57, số khung RLHJF5145GY115318, số máy JF51E0626907 cầm cố mà phía bị đơn đã mượn lại của Công ty. Tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của Công ty rút yêu cầu buộc ông T1 phải giao trả lại chiếc xe máy và rút lại số tiền 6.956.815₫ nay chỉ yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền 39.197.185₫ so với tổng số tiền khởi kiện ban đầu là 46.154.000đ. Xét thấy, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền: 39.197.185đ trong đó tiền gốc: 20.564.816₫, lãi: 1.479.376đ, tiền phí quản lí tài sản: 6.051.993đ, tiền phí trễ hạn: 11.200.000đ (tạm tính đến ngày 24/5/2024) thì thấy: Hợp đồng cầm cố số QNM210601008NA18X ngày 09/6/2021 được ký kết giữa: Bên nhận cầm cố: Công ty TNHH S1 (nay đổi tên thành Công ty Cổ phần S có ngay); bên cầm cố: ông Cần Thanh T1; nội dung cầm cố ông T1 cầm cố cho Công ty chiếc xe máy mang biển hiệu Honda SH Mode 125cc màu trắng nâu biển kiểm soát 43D1-848.57 để vay 28.500.000 đồng, thời hạn cầm cố 18 tháng kể từ ngày 09/6/2021 đến ngày 09/12/2022, với mức lãi suất 1.1%/ tháng. Như vậy Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc, phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở để xác định ông Cần Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng cầm cố số QNM210601008NA18X ngày 09/06/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Cần Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ông T1 không trả nợ cho Công ty khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ theo Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Hợp đồng cầm cố có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thi hành. Căn cứ Điều 309, Điều 312, Điều 313, Điều 314, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc ông T1 phải trả cho Công ty số tiền gốc và lãi tính đến ngày 24/5/2024 tổng số tiền là: 39.197.185₫.

[3.2] Về lãi suất: Theo Hợp đồng cầm cố và tại phiên toà Công ty yêu cầu tính lãi suất của món nợ là 1.1%/tháng. Xét yêu cầu tính lãi suất của Công ty là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3.3] Xét, đối với việc Công ty nhận cầm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của ông T1, các bên không đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền, nên giao dịch chưa phát sinh hiệu lực. Vì vậy, việc Công ty nhận cầm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của ông T1 là không phù hợp pháp luật. Do đó, ngay sau khi ông T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty có trách nhiệm giao trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy cho ông T1.

[4] Về án phí DSST: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa ông Cần Thanh T1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả 39.197.185đ x 5% = 1.960.000đ.

[5] Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 309, Điều 311, Điều 312, Điều 313, Điều 314, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 Bộ luật dân sự 2015;

- Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I/ Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc " Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản" của Công ty Cổ phần S Tiền Có Ngay đối với bị đơn ông Cần Thanh T1.

Xử: Buộc ông Cần Thanh T1 phải trả cho Công ty Cổ phần S Tiền Có Ngay tổng số tiền: 39.197.185₫ (Ba mươi chín triệu một trăm chín mươi bảy nghìn một trăm tám mươi lăm đồng) trong đó tiền gốc: 20.564.816₫, lãi: 1.479.376đ, tiền phí quản lí tài sản: 6.051.993đ, tiền phí trễ hạn: 11.200.000đ (tạm tính đến ngày 24/5/2024).

Kể từ ngày 25/5/2024 cho đến khi thi hành xong hàng tháng bên phải thi hành án án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo Hợp đồng cầm cố số QNM210601008NA18X ngày 09/06/2021 được ký kết giữa: Bên nhận cầm cố: Công ty TNHH S1 (nay đổi tên thành Công ty Cổ phần S có ngay) và bên cầm cố: ông Cần Thanh T1.

Ngay sau khi ông Cần Thanh T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi và các khoản phí thì Công ty Cổ phần S Có Ngay có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của ông Cần Thanh T1 biển kiểm soát 43D1-848.57.

2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Cần Thanh T1 trả lại chiếc xe máy hiệu Honda SH Mode 125cc màu trắng nâu biển kiểm soát 43D1-848.57, số khung RLHJF5145GY115318, số máy JF51E0626907 và số tiền 6.956.815₫ do nguyên đơn rút yêu cầu.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: 1.960.000đ (Một triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) ông Cần Thanh T1 phải chịu.

Hoàn trả cho cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tạm ứng án phí 1.153.850đ (Một triệu một trăm năm mươi ba ngàn tám trăm năm mươi đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0001162 ngày 27 tháng 12 năm 2023.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - CCTHADS quận Thanh Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Huyền Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DSST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 48/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger