|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Ông Nguyễn Quang Dân.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 185/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 203/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thanh T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2023, bản tự khai ngày 10/01/2024, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của chị Trương Thị Thanh T tại phiên tòa, đã xác định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thanh T và anh Trần Văn P tìm hiểu nhau trong thời gian khoảng một năm, sau đó chị T và anh P tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 02/11/2021. Vợ chồng chung sống với gia đình chồng ở thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế được 01 tháng thì xảy ra nhiều mâu thuẫn và không có hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Ngoài ra, anh P còn thường xuyên ăn nhậu, ham chơi và không quan tâm đến vợ con làm cho mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Đến đầu năm 2022, sau nhiều lần cãi vã và xung đột thì chị T đã bỏ về nhà bố mẹ ruột, sống ly thân với anh P. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T xin được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Trần Văn Bảo L, sinh ngày 19/12/2021, hiện nay con đang ở với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Trần Văn P thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh P vẫn vắng mặt nên không có lời khai của anh P.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị Thanh T. Xử cho chị Trương Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Văn P.
- Về con chung: Giao cháu Trần Văn Bảo L, sinh ngày 19/12/2021 cho chị Trương Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn P không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị Trương Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn P đang cư trú tại địa chỉ: Thôn F, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thanh T và anh Trần Văn P chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Thanh T, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị T, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Chị T và anh P đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Từ khi chị T có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh P trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của chị T nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh P không đến, chứng tỏ anh Trần Văn P đã bỏ mặc hôn nhân của mình và coi thường pháp luật. Nhận thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị Trương Thị Thanh T và anh Trần Văn P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trương Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Văn P là phù hợp pháp luật.
[3] Về con chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Trần Văn Bảo L, sinh ngày 19/12/2021, hiện nay con đang ở với chị T. Xét thấy chị T đang có công việc và chỗ ở ổn định, cháu Trần Văn B L thì đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp từ mẹ nên cần giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định với pháp luật. Chị Trương Thị Thanh T không yêu cầu anh Trần Văn P cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Thanh T, xử cho chị Trương Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Văn P. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Xử giao con chung là cháu Trần Văn Bảo L, sinh ngày 19/12/2021 cho chị Trương Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001813 ngày 06/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, chị T đã nộp đủ án phí.
Án sơ thẩm xét xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 185/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 185/2023/TLST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xác định cha cho con
