|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2024
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
Ông Nguyễn Đức Binh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 58/2024/QĐST-DS, ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A, đường L, khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Phan Thị K, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số I, đường Đ, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Thanh S, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A, đường L, khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Lê Vinh D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số I, đường Đ, khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Thanh S: Bà Phạm Thị Bích T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A, đường L, khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà T; còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày trình bày:
Vào ngày 10/12/2022 vợ chồng bà Phạm Thị Bích T, ông Phan Thanh S1 có cho vợ chồng bà Phan Thị K, ông Lê Vinh D vay số tiền 26.500.000 đồng, thoả thuận trả dần trong 03 tháng 10 ngày. Tuy nhiên, sau đó bà K, ông D không thực hiện, nên ngày 30/4/2023 bà T có đến đòi tiền thì bà K viết giấy tay hẹn trả hết số tiền 26.500.000 đồng vào ngày 02/5/2023. Tuy nhiên, đến ngày 02/5/2023 bà K vẫn không trả, sau đó các bên thoả thuận bà T đồng ý cho bà K, ông D trả dần số tiền nợ hàng tháng, mỗi tháng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Sau khi viết giấy, từ tháng tháng 5 đến tháng 10 năm 2023 bà K, ông D chỉ trả được 8.500.000 đồng, còn nợ lại 18.000.000 đồng. Từ đó đến nay bà K, ông D không hoàn trả mặc dù bà T đã nhiều lần liên hệ yêu cầu. Do, ông D, bà K vi phạm nghĩa vụ thoả thuận nên bà T khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà K, ông D liên đới phả trả số tiền nợ 18.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi 1,66%/tháng từ ngày 10/12/2022 đến ngày 13/11/2023 là 3.297.000 đồng và tiếp tục trả lãi từ ngày 14/11/2023 đến khi giải quyết xong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà T rút lại yêu cầu tính lãi; giữ nguyên yêu cầu Toà án buộc bà K, ông D liên đới phải trả cho bà T số tiền 18.000.000 đồng. Ngoài ra bà T không có yêu cầu gì khác.
Theo hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:
Trong năm 2023 bà K có vay góp của bà Phạm Thị Bích T số tiền 18.000.000 đồng, mỗi tuần đóng 2.000.000 đồng. Mục đích vay tiền là để trang trải cuộc sống gia đình. Sau đó, bà K đã đóng hết tiền lãi, chỉ còn thiếu lại số tiền vay 18.000.000 đồng. Bà K đồng ý trả dần cho bà T số tiền, mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi trả hết số tiền 18.000.000 đồng.
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh S, người đại diện trình bày:
Thống nhất như trình bày của nguyên đơn. Số tiền bà K, ông D vay là tài sản riêng của bà T, nên yêu cầu Toà án buộc bà K, ông D liên đới phải hoàn trả cho cá nhân bà T.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Vinh D:
Mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập, cũng không có ý kiến, tài liệu chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án, cũng không tham gia làm việc và tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh S đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Vinh D không thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn Phan Thị K hiện cư trú tại huyện Đ nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự, người đại diện cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ cần giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 Bộ luật dân sự.
[3] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự, người đại diện đến lần thứ hai. Tuy nhiên, tại phiên tòa vắng mặt bị đơn bà Phan Thị K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Vinh D nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh S, nhưng có người đại diện tham gia. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự trên tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Tại đơn khởi kiện bà T yêu cầu bà K, ông D phải trả tiền lãi từ ngày 10/12/2022 đến ngày 13/11/2023 là 11 tháng 01 ngày, theo mức lãi 1,66%/tháng, với số tiền lãi 3.297.000 đồng và tiếp tục trả lãi từ ngày 14/11/2023 đến khi giải quyết xong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà T rút lại yêu cầu tính lãi, xét thấy việc rút yêu cầu tính lãi của bà T là tự nguyện, nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này là phù hợp.
[5] Nguyên đơn bà T giữ nguyên yêu cầu Toà án buộc bà K, ông D liên đới phải trả số tiền 18.000.000 đồng; để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà T cung cấp cho Tòa án 02 giấy viết tay bản chính. Tại bản khai ngày 28/3/2024 bà K thừa nhận năm 2023 bà K có vay trả góp bà T số tiền 18.000.000 đồng, sau khi vay bà K có trả tiền lãi và hiện nay vẫn còn thiếu lại bà T số tiền 18.000.000 đồng, bà K đồng ý trả dần cho bà T số tiền 18.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ.
Tại phiên toà bà T yêu cầu bà K cùng ông D liên đới phải trả cho bà T số tiền 18.000.000 đồng. Tại bản khai ngày 28/3/2024 bà K thừa nhận mục đích vay số tiền là để trang trải cuộc sống gia đình. Nên cần buộc bà K, ông D liên đới phải trả cho bà T số tiền 18.000.000 đồng là phù hợp.
Mặc dù bà T có yêu cầu được trả dần số tiền 18.000.000 đồng theo hình thức mỗi tháng 2.000.000 đồng nhưng không được bà T chấp nhận. Nên cần buộc bà K, ông D phải trả số tiền 18.000.000 đồng một lần cho bà T là hợp lý.
[6] Tại bản khai ngày 28/3/2024 bà K thừa nhận sau khi vay bà K đã đóng hết số tiền lời, nên có cơ sở xác định khoản vay này có lãi. Nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[7] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận nên cần buộc bị đơn bà K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà T.
[8] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 468, các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điểm a nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
1. Tuyên xử:
- Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích T về việc yêu cầu Toà án buộc bà Phan Thị K, ông Lê Vinh D phải trả tiền lãi từ ngày 10/12/2022 đến ngày 13/11/2023 là 11 tháng 01 ngày, theo mức lãi 1,66%/tháng, số tiền 3.297.000 đồng và tiếp tục trả lãi từ ngày 14/11/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Phan Thị K, ông Lê Vinh D liên đới phải trả cho bà Phạm Thị Bích T số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Phương thức trả một lần.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Ông Phạm Thanh S, bà Phạm Thị Bích T không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí 532.000 đồng (Năm trăm ba mươi hai ngàn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0017750, ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đức Linh.
Bà Phan Thị K, ông Lê Vinh D liên đới phải chịu 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự, người đại diện có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Vinh D vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Các đương sự; - C.C. THA.DS huyện Đức Linh; - Lưu HS, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bích Trâm-Phan Thị Khánh
