Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-8-2024

v/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du

Ông Nguyễn Văn Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 212/2024/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T - Sinh năm: 1991. Địa chỉ: Số B đường Đ, tổ E phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H - Sinh năm: 1991. Địa chỉ: Số B đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh H tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Số B đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn vào năm 2020. Bà đã nộp đơn khởi kiện để xin ly hôn với ông Nguyễn Minh H, nhưng sau đó bà đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn không khắc phục được. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cụ thể: Ông Hiếu tự thực hiện các giao dịch về tài sản nhưng không thông báo cũng như bàn bạc với bà. Các khoản nợ phát sinh ngày càng nhiều, bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông H không thay đổi. Ngoài ra, ông H không có trách nhiệm với gia đình và không chu cấp kinh phí nuôi con chung. Từ tháng 5/2024, bà đã dẫn con chung về sinh sống tại nhà mẹ ruột ở địa chỉ: Số B đường Đ, tổ E phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng bà sống ly thân từ đó cho đến nay. Bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng bà có 02 con chung: Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày: 27/10/2020 và Nguyễn Hoàng Khôi M, sinh ngày: 08/11/2023. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Minh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh H: Mặc dù ông Nguyễn Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Minh H vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T.

* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Lệ T đối với ông Nguyễn Minh H.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày: 27/10/2020 và Nguyễn Hoàng Khôi M, sinh ngày: 08/11/2023 cho bà Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng và ông Nguyễn Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2024 thì nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn để xin ly hôn và nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Minh H có địa chỉ tại: Số B đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

[3] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T. Bị đơn ông Nguyễn Minh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Minh H tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37, đăng ký ngày 20/3/2019. Do đó, hôn nhân giữa ông Nguyễn Minh H và bà Nguyễn Thị Lệ T là hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Lệ T, HĐXX nhận thấy: Sau khoảng thời gian sống chung, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Bà T cũng chịu đựng và nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông H không thay đổi. Theo xác minh tại nơi cư trú của ông Nguyễn Minh H thể hiện: Vợ chồng ông Nguyễn Minh H và bà Nguyễn Thị Lệ T hiện không chung sống với nhau, bà T và con chung đã về nhà mẹ đẻ bà T sinh sống. Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Minh H vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng hay để Tòa án tiến hành hòa giải. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Minh H bỏ mặc, không quan tâm và không muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Nguyễn Thị Lệ T. Xét thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Minh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

[5] Về con chung:

[5.1] Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày: 27/10/2020 và Nguyễn Hoàng Khôi M, sinh ngày: 08/11/2023. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy: Hiện nay 02 cháu đang ở cùng bà T. Vì vậy, việc giao cháu Nguyễn Hoàng Khôi N và Nguyễn Hoàng Khôi M cho bà Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý và đảm bảo quyền, lợi ích về mọi mặt cũng như để ổn định cuộc sống của các cháu. Do đó, căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lệ T về việc giao 02 con chung Nguyễn Hoàng Khôi N và Nguyễn Hoàng Khôi M cho bà Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng.

[5.2] Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5.3] Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, ông Nguyễn Minh H và bà Nguyễn Thị Lệ T đều có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T đối với ông Nguyễn Minh H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37, đăng ký ngày 20/3/2019 tại Ủy ban nhân dân phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng).

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Khôi N1, sinh ngày: 27/10/2020 và Nguyễn Hoàng Khôi M, sinh ngày: 08/11/2023 cho bà Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Minh H không cấp dưỡng nuôi con.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001656 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Lệ T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - UBND p. Khuê Trung;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh Tuyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Minh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger