Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày 23 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nam và ông Lưu Xuân Giới

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn T, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1968, tại thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: khu C, phường D, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Á (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết); vợ là Trần Thị Kim H (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: ngày 15/9/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 21/3/2000 chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự. Tiền sự: Không; nhân thân: ngày 27/7/2001, bị Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/5/2003, chấp hành xong Bản án.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

  2. Ngô Văn T1, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1980, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T2 và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 29/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 13/02/2023 chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Chưa có.

    Bị bắt, tạm giữ ngày 21/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

  3. Nguyễn Kiều H1, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1977, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến B (đã chết) và bà Đoàn Thị N1 (đã chết); vợ là: Nguyễn Thị N2 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: ngày 27/10/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 33 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 30/9/2022, chấp hành xong hình phạt. Tiền sự: không. Nhân thân:
    • + Ngày 30/12/1993, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội: “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong bản án.
    • + Ngày 28/12/1994, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 12 tháng tù. Ngày 15/7/2008, chấp hành xong Bản án.
    • + Ngày 23/7/1998, bị Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Ngày 15/7/2008, chấp hành xong Bản án.
    • + Ngày 25/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ (nay là thành phố Hạ Long) tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Ngày 05/9/2007, chấp hành xong Bản án.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 21/12/2023, Ngô Văn T1 đến nhà Nguyễn Kiều H1 ở thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, mục đích để rủ H1 đi mua ma tuý, loại Heroine về cùng sử dụng. Do không có tiền để mua ma túy, T1 nảy sinh ý định dùng đôi giày của T1 đang sử dụng để mang đi đổi lấy ma tuý về sử dụng nên nói với H1: “Em có đôi giày lười da trị giá khoảng hơn một triệu đồng, anh xem có chỗ nào lấy ít ma tuý về chơi”. H1 nghe hiểu ý của T1 muốn đổi đôi giày lấy ma túy, loại Heroine về sử dụng nên đã đồng ý rồi gọi điện thoại di động cho Phạm Văn T nói: “Em có thằng em có đôi giày lười da trị giá hơn một triệu anh xem có lấy được không để em cầm sang đổi tý chơi được không”. T nghe H1 nói và hiểu là đổi ma túy loại Heroine lấy đôi giày, T đồng ý rồi cả hai thống nhất địa điểm giao dịch tại nhà của T. Thống nhất xong, T lấy túi nilon chứa ma tuý loại Heroine chia một lượng ma tuý vào 01 (một) gói giấy bạc rồi cất giấu vào túi áo khoác đang mặc. Còn H1T1 thuê xe mô tô của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) chở đi đến nhà T ở khu dân cư C, phường D, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Tại nhà T, T1 xuống xe tháo đôi giày đang đeo ở chân đưa cho H1 rồi một mình H1 cầm đi vào trong nhà T, đưa cho T đôi giày. T nhận, đeo thử giày vào chân, đồng thời lấy từ túi áo khoác đang mặc trên người ra 01(một) gói giấy bạc chứa ma tuý, loại H2 đưa cho H1. H1 cầm, đi bộ quay lại chỗ T1 đang chờ rồi cả hai tiếp tục đi xe mô tô về đến cổng nhà H1 thì xuống xe mô tô khi H1 trước bên trái đang mặc đi bộ đến khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an thị xã Đông Triều phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói giấy bằng vỏ bao thuốc lá chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M).

Căn cứ kết quả điều tra, ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều đã bắt người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Kiều H1Phạm Văn T. Quá trình khám xét đã thu giữ tại nhà Phạm Văn T: Trên ghế gỗ đầu giường phòng ngủ 01 (một) túi nilon kích thước (4x4)cm, 01 (một) túi nilon kích thước (9x6)cm; trên giường ngủ 01 (một) gói giấy bạc và 01 (một) túi nilon kích thước (6x9,5)cm bên trong có 06 (sáu) gói giấy bạc, trong toàn bộ các túi nilon và gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M9). Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 (một) cân điện tử, 01 (một) điện thoại Nokia 105 gắn sim 0362.586.866; của H1 01 (một) điện thoại Iphone 6s gắn sim 0363.142.939 và 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Về nguồn gốc ma túy bán cho Nguyễn Kiều H1 ngày 21/12/2023 cũng như ma túy thu giữ tại nhà ngày 22/12/2023, T khai: Chiều ngày 18/12/2023, T từ nhà đi đến khu vực cầu vượt thuộc quận H, thành phố Hải Phòng, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) 01 (một) túi nilon ma túy, loại Heroine với giá 6.000.000 (sáu triệu đồng), mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà chia một phần vào các túi nhỏ và gói giấy bạc để bán dần. Trưa ngày 21/12/2023, T đã trao đổi 01 (một) gói ma túy lấy 01 (một) đôi giày với H1. Số ma túy còn lại, T cất giấu nhằm mục đích để bán thì bị Công an phát hiện thu giữ.

Tại các Kết luận giám định số 1848/KL-KTHS ngày 28/12/2023 và số 1858/KL-KTHS ngày 29/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:

  • + Mẫu vật ký hiệu M thu giữ của Ngô Văn T1 gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; khối lượng: 0,076g (không phẩy không bảy sáu gam).
  • + Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M9 thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine. Tổng khối lượng 12,536g (mười hai phẩy năm ba sáu gam).

(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT: 09 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Cáo trạng số 368/CT-VKSĐT ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Phạm Văn T, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Ngô Văn T1Nguyễn Kiều H1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm giữ nguyên như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ.
  • Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều H1 từ 18 tháng đến 21 tháng tù, Ngô Văn T1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ.
  • Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 của Phạm Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S của Nguyễn Kiều H1, do các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + 02 sim điện thoại số 0362.586.xxx và số 0363.142.939; 01 cân điện tử không còn giá trị sử dụng; 02 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1848 và số 1858 là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • Số tiền 350.000 đồng thu giữ của Nguyễn Kiều H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H1.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

[2.1] Về tội danh:

Hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo được xác định qua các tài liệu chứng cứ như: lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị xã Đông Triều lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, biên bản khám xét chỗ ở của Phạm Văn T lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 22/12/2023, biên bản khám xét chỗ ở của Nguyễn Kiều H1 lập hồi 14 giờ 50 phút ngày 22/12/2023, biên bản kiểm tra thông tin trên điện thoại di động của Phạm Văn TNguyễn Kiều H1, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại khu dân cư C, phường D, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T có hành vi bán trái phép 01 (một) túi nilon ma túy, loại Heroine (bằng hình thức đổi lấy một đôi giày) cho Nguyễn Kiều H1. Ngoài ra, T còn có hành vi tàng trữ 12,536gam (mười hai phẩy năm ba sáu gam) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an phát hiện, thu giữ.

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 21/12/2023, tại khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Ngô Văn T1Nguyễn Kiều H1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,076gam (không phẩy không bảy sáu gam) ma túy, loại Heroine mua của Phạm Văn T, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thị xã Đông Triều phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vậy, tổng khối lượng ma túy T đã bán và tàng trữ nhằm mục đích để bán, bị thu giữ là 12,612gam (mười hai phẩy sáu một hai gam).

Hành vi nêu trên của Phạm Văn T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; đối với hành vi của Ngô Văn T1Nguyễn Kiêu H3 mặc dù số lượng tàng trữ dưới 0,1 gam nhưng Ngô Văn T1 đã bị kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và Nguyễn Kiều H1 đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đều chưa được xóa án tích nên hành vi thực hiện tội phạm nêu trên của T1H1 đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 368/CT-VKSĐT ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.

[2.2] Về hình phạt:

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại đến sức khoẻ con người, làm mất trật tự, an toàn xã hội nên phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xét về vai trò phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo Phạm Văn T thực hiện tội phạm độc lập nên T phải chịu mức hình phạt về hành vi pham tội của T.

Đối với bị cáo Ngô Văn T1Nguyễn Kiều H1 cùng thực hiện một tội phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, T1 là người khởi xướng mang tài sản của mình để đổi ma túy, còn H1 đã chủ động trực tiếp gọi điện cho T để mua ma túy, đồng thời cũng là người trực tiếp nhận ma túy từ T nên T1H1 có mức độ phạm tội ngang nhau.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Đối với Nguyễn Kiều H1Phạm Văn T, các bị cáo đã nhiều lần phạm tội, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng nay các bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện các bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng: đối với bị cáo Phạm Văn T, ngày 15/9/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay vẫn chưa chấp hành phần bồi thường dân sự nên bị cáo vẫn còn tiền án đối với bản án này. Do vậy, bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Ngô Văn T1 đang có 01 tiền án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và Nguyễn Kiều H1 đang có 01 tiền án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng về tiền án của các bị cáo là tình tiết để định tội nên bị cáo T1H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T có giao nộp 01 bản kỷ niệm chương của Ban liên lạc cựu chiến binh Quân đoàn 2 và 01 bản kỷ niệm chương của Ban liên lạc cựu chiến binh toàn quốc, nhưng cả 02 tài liệu trên đều không phải của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tặng thưởng nên không được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 của Nguyễn Văn T3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S của Nguyễn Kiều H1, do các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 02 (hai) sim điện thoại số 0362.586.xxx và số 0363.142.939; 01 cân điện tử, không còn giá trị sử dụng; 02 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Số tiền 350.000 đồng thu giữ của Nguyễn Kiều H1, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H1.

[4] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy, theo Phạm Văn T khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Về đôi giày do Nguyễn Kiều H1 mang đến nhà T thỏa thuận đổi lấy ma túy, Phạm Văn T khai, sau khi nhận đôi giày, T để ở cửa nhà sau đó đã bị mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa thu giữ được.

[5] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 22/12/2023).

    Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Kiều H1 và bị cáo Ngô Văn T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Kiều H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 22/12/2023).

    Xử phạt: bị cáo Ngô Văn T1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 21/12/2023).

  2. Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) sim điện thoại số 0362.586.xxx và số 0363.142.939; 01 cân điện tử; 02 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1848/KL-KTHS ngày 28/12/2023 và số 1858/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

    Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, nộp ngân sách nhà nước.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 76 ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Kiều H1 số tiền 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) được gửi tại Kho bạc Nhà nước Đông Triều, theo biên bản giao nhận tài sản ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông TriềuKho bạc Nhà nước Đ.

  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Phạm Văn T, Ngô Văn T1Nguyễn Kiều H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thị xã Đông Triều;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Triều;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu H.sơ, V.phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Vi Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger