| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 48/2024/HS-ST Ngày 23/5/2024 |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Yến Lan
Bà Hà Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Hồng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN QUỐC V, sinh ngày 08/01/19xx tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: Tổ H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn X và bà Nguyễn Thị U; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 29/11/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Ngày 26/02/2012, bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính (750.000 đồng) về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
- Ngày 13/12/2012, bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 01/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. (Chấp hành án xong ngày 28/04/2017)
- Ngày 01/3/2023, bị Công an thành phố Đ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt ngày 21/02/2023, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc V: Luật sư Nguyễn Văn P – Công ty L2 và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1968; Nơi cư trú: H D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Đặng Thị Xuân Q, sinh năm 1990; Nơi cư trú: H D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn X, sinh năm 1949; Nơi cư trú: Tổ H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Hà Thị Y, sinh năm 1989; Nơi cư trú: K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Hồ Thị L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: B T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Phan Hoàng V1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Đinh Quốc H1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Hồ Đắc S, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Thạch Đình H2, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ B, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Trương Viết X1, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Tổ A, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ đầu tháng 02/2023, để có tiền tiêu xài cá nhân và có ma túy sử dụng, Nguyễn Quốc V đã thực hiện 02 lần mua ma túy của người tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán lại cho các đối tượng khác. Về phương thức, thủ đoạn phạm tội, V điện thoại, nhắn tin thống nhất giá cả, số lượng rồi hẹn thời gian, địa điểm giao dịch mua bán ma túy. Để tránh phát hiện, V đã xóa tin nhắn, cuộc gọi trên máy điện thoại của V liên quan đến hoạt động mua bán ma túy. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 17 phút đến 17 giờ 28 phút ngày 06/02/2023, V dùng số điện thoại 0908.052.xxx điện thoại và nhắn tin cho L1 có số điện thoại 0969.000.xxx hỏi mua 40 gam ma túy đá. Cả hai thỏa thuận và thống nhất giá tiền 15.000.000 đồng, hẹn giao dịch mua bán ma túy tại gần khu vực ngã ba đường Đ - T, thành phố Đà Nẵng. V đến điểm hẹn, giao tiền trực tiếp cho L1, L1 chỉ vị trí để sẵn ma túy gần đó để V lấy. Sau khi có ma túy, V mang về nhà tại địa chỉ K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng cất giấu, phân chia và bán hết, thu lợi 13.000.000 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, với phương thức nêu trên, V đã mua của L1 40 gam ma túy đá giá 15.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V mang về nhà tại địa chỉ K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng cất giấu để bán.
Tối ngày 21/02/2023, V điều khiển xe mô tô BKS: 43F1- 295.42 mượn của Hồ Đắc S, mang 02 gói ma túy để bán cho hai nam thanh niên tên S và N (không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ số điện thoại) với giá lần lượt là 200.000 đồng và 300.000 đồng tại nhà nghỉ P1, số B đường T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng nhưng V chưa kịp bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ của V:
- 01 (một) mảnh giấy mềm màu trắng được cuộn tròn bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Được niêm phong theo quy định pháp luật, ký hiệu: A.
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có một gói nilong chứa tinh thể rắn, trắng. Được niêm phong theo quy định pháp luật, ký hiệu: B
- 01 (một) điện thoại di động màu xanh, Imei: 355660520997331; gắn sim số: 0908.052.652; 01 (một) xe mô tô gắn BKS: 43F1-295.42.
* Khám xét chỗ ở của V tại K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, Công an thành phố Đ còn thu giữ:
- 01 (một) gói nilong màu trắng, kích thước khoảng (7x11,5)cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Được niêm phong theo quy định pháp luật, ký hiệu K;
- 01 (một) cân điện tử màu trắng; 01 (một) muỗng Inox kim loại; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc V số [...].
- Tiền mặt: 5.300.000 đồng tiền Ngân hàng N1.
* Tại Kết luận giám định số: 160/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng K, Công an thành phố Đ kết luận:
- Tinh thể rắn màu trắng trong các gói niêm phong ký hiệu A, B, K gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định: mẫu A: 0,323 gam; mẫu B: 0,767 gam; mẫu K: 44,155 gam.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-P1 ngày 12/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V mức án từ 18 đến 20 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo là 13.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử lý như đã đề cập tại bản Cáo trạng.
Luật sư Nguyễn Văn P bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc V thống nhất về tội danh, điểm, khoản, Điều luật mà Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng mức án mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc so với khối lượng ma túy bị cáo phạm tội. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về các loại tội phạm nhưng đã được xóa án tích. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự giác khai nhận những hành vi mua bán ma túy trước đó với cơ quan điều tra; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ già đau ốm, con còn nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quốc V, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, luận cứ bào chữa của Luật sư, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Để có tiền tiêu xài cá nhân và có ma túy sử dụng, từ đầu tháng 02/2023, Nguyễn Quốc V đã 02 lần mua ma túy của đối tượng tên L1 (không rõ nhân thân lai lịch), mang về chia nhỏ ra để sử dụng và bán lại cho nhiều đối tượng khác. Lần 01: Ngày 06/02/2023, Nguyễn Quốc V mua khoảng 40 gam ma túy đá với giá 15.000.000 đồng, sau đó phân chia, bán hết thu lợi 13.000.000 đồng. Lần 02: Ngày 21/02/2023, V tiếp tục mua khoảng 40 gam ma túy đá từ L1 với giá 15.000.000 đồng rồi cất giấu tại nhà ở K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, Nguyễn Quốc V mang 02 gói ma túy đến nhà nghỉ P1 tại B T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng để bán cho N và S (không rõ nhân thân, lai lịch) nhưng đang chờ để bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 điện thoại di động V dùng vào việc phạm tội. Khám xét chỗ ở của Nguyễn Quốc V tại K T, phường A, quận T, Cơ quan điều tra còn thu giữ 44,155 gam ma túy loại Methamphetamine cùng một số dụng cụ, đồ vật khác.
Tổng khối lượng ma túy mà Nguyễn Quốc V mua bán bị thu giữ là 45,245 gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của Nguyễn Quốc V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng số 21/CT-VKS-P1 ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Nguyễn Quốc V là người có nhân thân xấu, từng bị xét xử về nhiều loại tội phạm khác nhau, từng bị xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn không cải sửa bản thân mà tiếp tục sử dụng ma túy và mua bán trái phép chất ma túy. Chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với số lượng lớn. Ngoài số lượng ma túy đã bị thu giữ, trước đó bị cáo còn mua bán số lượng ma túy lớn (khoảng 40 gam) và đã thu lợi bất chính số tiền 13.000.000 đồng nên bị cáo phạm tội với tình tiết định khung theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang, bị cáo đã khai nhận lần phạm tội trước đó, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội và là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, do đó cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận, đối với đề nghị của Luật sư về việc xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo nhằm tăng cường tác dụng giáo dục, răn đe của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với các vật chứng gồm: Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong theo Kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ (gồm 03 bì có ký hiệu A, B, K); 01 (một) cân điện tử màu trắng; 01 (một) muỗng Inox kim loại; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) sim có ký hiệu 8984050920 (số I), cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh, Imei: 355660520997331 là công cụ bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 5.300.000 đồng thu giữ của bị cáo, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc V số 07208201xxxx là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
- Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận đã mua bán trái phép chất ma túy và thu lợi số tiền 13.000.000 đồng nên cần truy thu, buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung công quỹ nhà nước.
- Đối với xe mô tô BKS: 43F1-295.42, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Đinh Thị Thu H, bà H giao xe cho Đặng Thị Xuân Q, chị Q giao xe cho Hồ Đắc S mượn, ông S giao xe cho bị cáo V mượn. Bà H, chị Q và ông S đều không biết bị cáo sử dụng xe vào việc mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại xe nói trên cho chủ sở hữu (bà Đinh Thị Thu H) là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Đối với ngôi nhà tại địa chỉ K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, đây là tài sản của ông Nguyễn X và bà Nguyễn Thị U (là cha và mẹ của bị cáo V), cho bị cáo V ở chung. Việc bị cáo cất giữ ma túy tại nhà nói trên, ông X và bà U không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
[5] Đối với các vấn đề có liên quan khác trong vụ án:
- Đối với đối tượng tên L1 là người bán ma túy cho bị cáo V, bị cáo không khai rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chưa có cơ sở xác minh, truy bắt để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với Hà Thị Y là vợ của Nguyễn Quốc V, cùng chung sống với V tại K T, phường A, quận T, nhưng Y không biết V cất giấu, mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở. Tại thời điểm làm việc, Cơ quan Công an tiến hành test ma túy xác định Y và V đều dương tính với ma túy đá. Bản thân Y và V thừa nhận hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nên Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Y và V là có căn cứ.
- Đối với Đinh Quốc H1 và Phan Hoàng V1 đến Nhà nghỉ P1 để gặp V, quá trình điều tra xác định, tối ngày 21/02/2023, V hẹn V1 đến trước Nhà nghỉ P1 để trả nợ. Sau đó, V1 rủ H1 cùng đi, khi vừa đến trước Nhà nghỉ P1 gặp V thì Cơ quan Công an bắt quả tang Việt. Bản thân H1 và V1 không biết V cất giấu, mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
- Đối với ông Nguyễn X và bà Nguyễn Thị U (cha mẹ ruột của Nguyễn Quốc V) là chủ sở hữu ngôi nhà tại địa chỉ K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Ông X và bà U cho V và vợ con sinh sống tại ngôi nhà trên nhưng không biết V cất giấu, mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
- Đối với bà Hồ Thị L là chủ Nhà nghỉ P1, không quen biết Nguyễn Quốc V, không liên quan đến hoạt động mua bán ma túy của V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà L là có cơ sở.
- Đối với bà Đinh Thị Thu H là chủ sở hữu xe mô tô BKS: 43F1-295.42, bà H giao xe cho Đặng Thị Xuân Q, chị Q giao xe cho Hồ Đắc S mượn, ông S giao xe cho bị cáo V mượn. Bà H, chị Q và ông S đều không biết bị cáo sử dụng xe vào việc mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà H, chị Q và ông S là có cơ sở.
- Đối với những người liên hệ mua ma túy của Nguyễn Quốc V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chưa xác minh được nhân thân, lai lịch cụ thể nên sẽ tiếp tục điều tra và xử lý sau là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Quốc V: 18 (Mười tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 21/02/2023.
Phạt bổ sung đối với Nguyễn Quốc V số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
II/ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong theo Kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ (gồm 03 bì có ký hiệu A, B, K); 01 (một) cân điện tử màu trắng; 01 (một) muỗng Inox kim loại; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) sim có ký hiệu 8984050920 (số I).
- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động màu xanh, Imei: 355660520997331;
- Trả lại cho Nguyễn Quốc V: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc V số [...];
- Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án: Số tiền 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1054137.00000 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng mở tại Kho bạc thành phố Đà Nẵng theo Giấy nộp tiền số 24082635 ngày 26/02/2024).
- Truy thu của Nguyễn Quốc V: Số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2024).
III/ Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quốc V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
IV/ Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Cảnh |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Để có tiền tiêu xài cá nhân và có ma túy sử dụng, từ đầu tháng 02/2023, Nguyễn Quốc V đã 02 lần mua ma túy của đối tượng tên L1 (không rõ nhân thân lai lịch), mang về chia nhỏ ra để sử dụng và bán lại cho nhiều đối tượng khác. Lần 01: Ngày 06/02/2023, Nguyễn Quốc V mua khoảng 40 gam ma túy đá với giá 15.000.000 đồng, sau đó phân chia, bán hết thu lợi 13.000.000 đồng. Lần 02: Ngày 21/02/2023, V tiếp tục mua khoảng 40 gam ma túy đá từ L1 với giá 15.000.000 đồng rồi cất giấu tại nhà ở K T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, Nguyễn Quốc V mang 02 gói ma túy đến nhà nghỉ P1 tại B T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng để bán cho N và S (không rõ nhân thân, lai lịch) nhưng đang chờ để bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 điện thoại di động V dùng vào việc phạm tội. Khám xét chỗ ở của Nguyễn Quốc V tại K T, phường A, quận T, Cơ quan điều tra còn thu giữ 44,155 gam ma túy loại Methamphetamine cùng một số dụng cụ, đồ vật khác. Tổng khối lượng ma túy mà Nguyễn Quốc V mua bán bị thu giữ là 45,245 gam ma túy loại Methamphetamine.
