|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-PT
Ngày 23-4-2024
V/v Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài
sản; Hủy phần cập nhật biến động
trong Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất; Tranh chấp về
chia tài sản sau khi ly hôn; Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Tùng Lâm.
Ông Phan Trịnh Minh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản; Hủy phần cập nhật biến động trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án sơ thẩm số 902/2023/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1300/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4628/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thanh Q, sinh năm 1988. (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: Số B đường H, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1986. (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị Như Ý, sinh năm 1985 (theo Giấy ủy quyền ngày 11/3/2024). (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường D, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D đường T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1971 (theo Văn bản ủy quyền ngày 22/7/2023) (có mặt)
Địa chỉ: Số B đường H, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Cao Tấn N, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường H, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thanh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2022 cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Thanh Q (sau đây gọi là ông Q) trình bày:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 1003/2020/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Về con chung trẻ Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 do bà Lê Thị T, sinh năm 1986 là người trực tiếp nuôi dưỡng. Thực hiện theo Quyết định của tòa án và thi hành án, kể từ ngày 03/11/2020 ông Q đã giao con chung Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và mỗi tháng ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Ông Q được quyền đến thăm con. Ngày 07/9/2020 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ông Q đã lập hợp đồng tặng cho phần Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với thửa đất số 430, tờ bản đồ số 60, địa chỉ A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017 đăng ký thay đổi ngày 17/1/2018, ngày 5/4/2018 và ngày 17/5/2018. Bên nhận tặng cho là bà Lê Thị T, sinh năm: 1986, thường trú: khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời bà T là người đại diện trực tiếp nuôi con chung và quản lý phần tài sản của trẻ được tặng cho đến khi trưởng thành. Nhưng nay do hoàn cảnh của chị Lê Thị T có thay đổi, không thực hiện theo quyết định của Tòa án như sau: Khi quyết định có hiệu lực, ông Q đã gửi tiền cung cấp nuôi dưỡng cho con mỗi tháng là 5.000.000 (năm triệu) đồng từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021 được 06 tháng. Đối với bà Lê Thị T có ý đồ chiếm lấy tài sản của ông Q nhờ lợi dụng tấm lòng thương con của ông Q. Khi ra Tòa án bà T xin được quyền nuôi con, để ông Q phải lo cho con bằng một phần tài sản căn nhà nêu trên, đúng với ý đồ mong muốn của bà T, nên ngày 07/9/2020 ông Q đã lập hợp đồng tặng cho là chị Lê Thị T. Ngày 16/9/2020, đăng ký cập nhật biến động trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017 qua tên tên Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 và ông Q đã để lại tài sản sinh hoạt trong nhà có giá trị khoảng 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng cho con. Tuy nhiên, ông Q không có yêu cầu đối với phần tài sản này. Sau đó bà T bộc lộ giở trò, tiến hành dọn hết đồ đạc trong nhà đi. Từ tháng 5 năm 2021 đến nay, ông Q luôn tìm kiếm con để cấp dưỡng nhưng bà T không cho gặp. Qua tìm hiểu ông Q được biết bà T đem con đi gửi bạn chăm sóc. Đối với nhà và đất tọa lạc tại số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh bà T khóa cửa và đăng trên mạng cho thuê. Qua phần trình bày kể trên ông Q thấy rằng: Bà T không thực hiện theo Quyết định của Tòa án, không cho ông Q được thăm gặp và gửi tiền cấp dưỡng nuôi con. Bà T bỏ phế nhà cửa, không bảo quản giữ gìn tài sản. Tại phiên tòa, ông Võ Thanh Q yêu cầu:
- Buộc bà Lê Thị T giao con chung tên Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 cho ông Võ Thanh Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
- Hủy hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 010886 ngày 07/9/2020 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Yêu cầu hủy phần cập nhật biến động ngày 16/9/2020 qua tên bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 có bà T là người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017.
- Yêu cầu chia tài sản là nhà và đất tọa lạc tại số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q thống nhất với kết quả định giá tại chứng thư thẩm định giá số 1920523/CT-TV ngày 30/6/2023 của Công ty cổ phần Đ, không yêu cầu định giá lại. Theo chứng thư này thì tổng giá trị nhà đất tranh chấp là 4.714.239.000 (bốn tỷ bảy trăm mười bốn triệu hai trăm ba chín ngàn) đồng. Ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết được chia ½ giá trị nhà và đất tọa lạc tại số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh tương đương với số tiền 2.357.119.500 (hai tỷ ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười chín ngàn năm trăm) đồng.
Đối với việc bà Lê Thị T trình bày có làm đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 về việc ông Võ Thanh Q về việc gây thương tích cho bà Lê Thị T. Căn cứ thông báo kết luận giám định số 2882, 2883 ngày 27/4/2023 và thông báo không khởi tố vụ án hình sự số 2880 ngày 27/4/2023 do tỷ lệ thương tật là 3%. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức là phạt tiền số tiền là 6.500.000 (sáu triệu năm trăm ngàn) đồng. Ông Võ Thanh Q đã khiếu nại quyết định xử phạt này và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 cũng đã thu hồi Quyết định xử phạt.
Đối với Chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản) và tiền tạm ứng đo đạc: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng và chi phí thẩm định giá tài sản số tiền là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. Tổng cộng số tiền là 18.000.000 (mười tám triệu) đồng. Ông Q đề nghị tòa án giải quyết số tiền chi phí tố tụng theo quy định pháp luật khi xét xử. Về tiền tạm ứng đo đạc số tiền là 5.827.925 (năm triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn chín trăm hai lăm) đồng thì ông Q không yêu cầu tòa án giải quyết phần tạm ứng đo đạc đã nộp khi ký hợp đồng với Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Kim L thì ông Q có ý kiến như sau: Vào tháng 5 năm 2018, khi ông Q và bà T còn là vợ chồng chung sống với nhau, khi ấy mẹ vợ của ông Q là bà Đặng Thị L1 sinh năm 1955 cư trú tại xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng có nói với ông Q và bà T là bà tính làm di chúc sau này chia đất đai ra cho con cháu. Bà L1 kêu ông Q và bà T về quê sinh sống bà sẽ để lại đất đai nhà cửa hiện tại bà đang ở ký giấy cho hai đứa, để sau này khi bà già bà lên xuống thăm con cháu bất tiện. Vì sinh sống ở trên đây quen rồi nên bà T không chịu về ở dưới quê, nên bà L1 mới hỏi vậy hai đứa làm dành dụm được bao nhiêu rồi, nếu không chịu về đây ở thì để bà tính coi sao có gì bà sẽ gom tiền phụ cho 2 đứa mua nhà trên đây ở. Ông Q và bà T đi tìm nhà để mua, thì sau vài ngày đi tìm được căn nhà ưng ý địa chỉ số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; giá mua là 3.850.000.000 (ba tỷ tám trăm năm mươi triệu) đồng. Nhưng vì không có đủ tiền mặt để mua nhà, nên ông Q, bà T thỏa thuận với người bán trả như sau: trả trước 1.850.000.000 (một tỷ tám trăm năm mươi triệu) đồng; sau đó ký giấy công chứng sang tên qua cho ông Q và bà T đi thế chấp cho Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 theo hợp đồng tính dụng số: LD1812700018 ngày 07/05/2018, giải ngân vào ngày 31/05/2018 vay số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng trả đủ số tiền còn lại cho bên bán và nhận nhà. Đến tháng 12 năm 2019 thì ông Q và bà T trả hết số nợ cho ngân hàng sớm hơn so với hợp đồng thỏa thuận và đã xóa đăng ký thuế chấp vào ngày 04/12/2019 theo hồ sơ số: 27409.078273.XC.VP. Vào thời điểm khi trả nợ ngân hàng gần xong, thì bà L1 có yêu cầu ông Q, bà T ký giấy sang tên chủ quyền nhà cho bà L1. Để giữ hòa thuận yên ấm cho gia đình ông Q sau khi trả nợ cho ngân hàng xong, ngày 06/12/2019 ông Q và bà T đã ra Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh ký giấy trao tặng căn nhà trên cho bà L1. Sau khi ký xong hợp đồng tặng cho, bà T gom sạch tài sản và bỏ nhà ra đi cùng thằng em kết nghĩa mà ông Q đang cưu mang cho ở chung nhà và làm việc cho ông Q. Nhận thấy vụ việc tặng cho căn nhà nêu trên cho bà L1 có dấu hiệu bất ổn, ông Q đã nhờ bên chính quyền ngăn chặn việc sang tên chủ quyền cho bà L1. Sau đó, ông Q đã tìm gặp được bà T. Khi đó bà L1 nói là sẽ đưa lại cho bà T và ông Q số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng rồi tiếp tục sang tên nhà qua cho bà L1. Còn nếu không đồng ý tiếp tục sang tên qua cho bà thì để bà cộng sổ lại số tiền mà trước giờ bà đã phụ cho mua nhà số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng và yêu cầu ông Q, bà T trả. Đồng thời, bà sẽ ký giấy hủy hợp đồng cho tặng cho đã ký. Ngày 08/3/2020, ông Q mượn của cô ruột tên Trần Thị Kim L, sinh năm 1969, địa chỉ số D T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng để trả cho bà L1 để hủy hợp đồng cho tặng cho đã ký. Vào thời điểm đó bà T vừa mới làm ngực ở bệnh viện về sức khỏe còn kém, nên khi cô L kêu qua nhà ghi cho cô tờ giấy làm tin (giấy vay tiền) để cô cho mượn tiền trả bà L1 thì bà T không đi, ông Q đi một mình để ký giấy vay tiền với cô L. Số tiền còn lại 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng ông Q và bà T tiếp tục lấy chủ quyền nhà đi vay thế chấp Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 đã được lập hồ sơ duyệt cho vay vào ngày 10/3/2020 theo hồ sơ số 27409.071669.TC.VP để trả bà L1. Sau khi trả xong cho bà L1, ngày 10/3/2020 ông Q, bà T và bà L1 cùng nhau ra Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh để ký hủy bỏ hợp đồng cho tặng cho. Sau khi hủy hợp đồng tặng cho bà T lại gom sạch tiền bạc, vàng vòng và một số mỹ phẩm tiếp tục bỏ đi để lại đứa con gái ruột của mình mang nặng đẻ đau. Sau nhiều lần tìm kiếm và thuyết phục thì bà T quay về. Ông Q và bà T vay tiếp tiền của bà Trần Thị Kim L số tiền là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng và cùng nhau đến Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 để trả nợ và thực hiện việc xóa thế chấp đối với căn nhà trên. Như vậy, số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng vay của bà Trần Thị Kim L để trả nợ cho bà L1 (mẹ ruột bà T) và trả cho ngân hàng để xóa thế chấp đối với nhà và đất tọa lạc tại A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên ông Q đề nghị tòa án giải quyết buộc bà T có trách nhiệm trả cho bà L ½ số tiền 3.500.000.000 đồng (tương đương với số tiền là 1.750.000.000 đồng). Để chứng minh cho ý kiến là có căn cứ ông Q nộp cho tòa các tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 10/3/2020 số công chứng 04153 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, Hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 06/12/2019 số công chứng 27895 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh hai hợp đồng này được ký giữa bà Đặng Thị L1 và ông Võ Thanh Q, bà Lê Thị T; Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 26/3/2020 số công chứng 05319 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 08/6/2018 số công chứng 014403 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh hai hợp đồng này được ký giữa Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 và ông Võ Thanh Q, bà Lê Thị T (tất cả là bản sao).
Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị T (sau đây gọi là bà T) trình bày:
Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là trẻ Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 của ông Võ Thanh Q thì bà T có ý kiến như sau: Bà T và ông Q ly hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 1003/2020/QÐST–HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T là người được Tòa án nhân dân Quận H giao trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Võ Lê Như Ý1, ông Q là người có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng cho tới khi trẻ được 18 tuổi. Cuộc sống giữa bà T và trẻ Như Ý1 từ khi ly hôn cho tới nay là hết sức ổn định, trẻ Ý được bà T chăm sóc nuôi dưỡng với tinh thần thể trạng phát triển rất tốt so với các trẻ cùng tuổi. Hiện tại trẻ Võ Lê Như Ý1 đang học lớp 2/4 Trường Tiểu học N1, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T vẫn đưa đón trẻ mỗi ngày và đóng học phí đầy đủ cho nhà trường. Ngoài ra, bà T cũng không ngăn cản việc thăm nom con như ông Q trình bày, mặc dù từ khi ly hôn ông Q chỉ có cấp dưỡng nuôi con được 02 lần. Trái lại, ông Q lợi dụng việc thăm con để gây sức ép có hành vi hành hung bà T. Bà T đã làm đơn tố cáo ông Q về việc gây thương tích cho bà T và đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 có thông báo kết luận giám định số 2882, 2883 ngày 27/4/2023 và thông báo không khởi tố vụ án hình sự số 2880 ngày 27/4/2023 do tỷ lệ thương tật là 3%. Tuy nhiên, việc gây gổ hành hung của ông Q đã ảnh hưởng tâm lý nặng nề đến bà T và trẻ Võ Lê Như Ý1. Về nghĩa vụ làm mẹ, từ suốt thời gian đó cho tới nay dù không có khoản trợ cấp nuôi dưỡng từ phía ông Q thì bà T vẫn một mình tự gánh vác trách nhiệm yêu thương, nuôi con, chăm sóc, giáo dục con cái chu toàn. Ông Q hiện tại đã có gia đình mới, vợ của ông Q đang mang bầu sắp sinh. Trẻ Võ Lê Như Ý1 là con gái nên để bà T trực tiếp nuôi dưỡng vẫn tốt hơn so với việc ông Q là cha nuôi trẻ. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển về tâm lý, thể chất của trẻ Như Ý1 cũng như không làm xáo trộn việc học hành trong nhiều năm qua của trẻ Ý, bà T đề nghị Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của ông Võ Thanh Q. Về việc cấp dưỡng nuôi con: mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng cho trẻ Ý, bà T đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 1003/2020/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
Về tranh chấp hợp đồng tặng cho, hủy bỏ phần cập nhật biến động và chia tài sản sau ly hôn là căn nhà số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh mà ông Q yêu cầu. Bà T có ý kiến như sau, trước khi ly hôn bà T và ông Q có tạo lập được tài sản chung là nhà và đất tọa lạc tại số A T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ hôn nhân ông Q có tự nguyện tặng cho lại phần sở hữu nhà ở, phần quyền sử dụng đất ở là căn nhà nêu trên cho bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 theo Hợp đồng số 010886 ngày 07/9/2020, hợp đồng này được lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó bà T và trẻ Như Ý1 đã được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cho cập nhật đăng bộ vào ngày 16/9/2020 trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ CH3808 ngày 20/3/2017. Hiện nay bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 vẫn sinh sống tại căn nhà này và không hề có hành vi cho thuê nhà vi phạm điều kiện tặng cho nhà được quy định tại điều 2 của Hợp đồng tặng cho như ông lời Q trình bày. Do đó bà T đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với trẻ Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015; hủy Hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 010886 ngày 07/9/2020 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; hủy phần cập nhật biến động ngày 16/9/2020 qua tên bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 có bà T là người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017. Bà T không đồng ý yêu cầu chia tài sản là căn nhà số A T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì tài sản trên đã được ông Q tặng cho bà và con Võ Lê Như Ý1 nên không còn là tài sản chung của vợ chồng. Bà T thống nhất với kết quả định giá tại chứng thư thẩm định giá số 1920523/CT-TV ngày 30/6/2023 của Công ty cổ phần Đ, không yêu cầu định giá lại.
Đối với khoản nợ của bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1969; địa chỉ: Số D T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà T có ý kiến như sau: Trong thời kỳ hôn nhân ông Q, bà T có mua căn nhà số A T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền mua là 3.850.000.000 (ba tỷ tám trăm năm mươi triệu) đồng, tiền mặt vợ chồng dành dụm được là 1.850.000.000 (một tỷ tám trăm năm mươi triệu) đồng và vay thêm ngân hàng 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Bà L1 là mẹ ruột bà T có nguyện vọng là do điều kiện ở xa muốn gần con cháu nên bà L1 chuyển chỗ ở từ Sóc Trăng lên ở chung với vợ chồng bà T và ông Q. Để thực hiện nguyện vọng đó thì tháng 12 năm 2019 bà L1 có hỗ trợ ông Q và bà T mượn tổng cộng số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng để trả hết số nợ cho Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 sớm hơn so với hợp đồng thỏa thuận và đã xóa đăng ký thế chấp vào ngày 04/12/2019 theo hồ sơ số: 27409.078273.XC.VP. với điều kiện ông Q, bà T ký hợp đồng tặng cho sang tên chủ quyền nhà cho bà L1, việc vay mượn bằng tiền mặt. Ông Q, bà T đồng ý nên ngày 06/12/2019 ông Q và bà T đã ra Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng tặng cho căn nhà trên cho bà L1. Nhưng vì ông Q dính vào tệ nạn không lo làm ăn nên bà L1 giận nên không muốn sống cùng vợ chồng ông Q, bà T nữa. Nên ông Q, bà T cùng bà L1 đã thực hiện thủ tục hủy bỏ hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 10/3/2020 số công chứng 04153 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ông Q, bà T có thế chấp căn nhà trên tại Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 để vay số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng để trả lại cho bà L1 (số tiền này trước đây ông Q, bà T mượn để trả Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2). Sau đó bà T có năn nỉ bà L1 bỏ qua những lỗi lầm trước đó của ông Q, vì tình thương con cháu xin bà cho mượn số tiền là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng để trả cho Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh H2 thực hiện thủ tục giải chấp lấy lại nhà và đất tọa lạc tại số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bà L1 tiếp tục giao tiền mặt cho bà T trong lần vay này. Bà T thấy rằng, những chứng cứ ông Q cung cấp phù hợp với việc vợ chồng đã phải vay ngân hàng và mẹ bà T là bà Đặng Thị L1, hoàn toàn không liên quan đến việc vay mượn nào với bà L. Nay sau khi ly hôn, ông Q đưa ra khoản nợ 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng vay của bà L là cô ruột của ông Q thì bà T không đồng ý có trách nhiệm liên đới trả. Vì bà T không có mượn của bà L nào cả và cũng không ký tên trên các văn bản nào để vay của ai trong thời kỳ hôn nhân. Nếu ông Q trình bày thì đó là khoản nợ riêng của ông Q không phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, không liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, trong suốt quá trình sống chung khi chưa ly hôn đến khi ký hợp đồng tặng cho nhà và đất tọa lạc tại A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến thời điểm ly hôn ông Q cũng không hề nhắc đến khoản nợ 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng của bà L. Theo bà T tìm hiểu từ các chủ nhà bán cho ông Q thì lúc sắp ly hôn khoảng ngày 29/10/2020 ông Q có thực hiện việc đặt cọc số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng để mua bán căn nhà số B Â, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đã sang tên chủ quyền cho ông Q vào ngày 13/11/2020. Ngoài ra, ông Q còn mua thêm một căn nhà 1982/100/47/3 Huỳnh Tấn P1, khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh sang tên chủ quyền riêng cho ông Q ngày 16/12/2020 sau thời kỳ hôn nhân. Do đó, bà T cho rằng nếu có việc mượn bà L số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng thì ông Q đã giữ để phục riêng cho mục đích mua nhà đứng tên riêng một mình ông Q khi sắp hoàn tất thủ tục ly hôn hoặc giữa bà L và ông Q có thể họ móc nối để đổ trách nhiệm liên đới trả cho bà T đồng thời gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Vì vậy, bà T đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày này của ông Q.Đối với chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản) và tiền tạm ứng đo đạc: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng và chi phí thẩm định giá tài sản số tiền là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. Tổng cộng số tiền là 18.000.000 (mười tám triệu) đồng. Bà T đề nghị tòa án giải quyết số tiền chi phí tố tụng theo quy định pháp luật khi xét xử. Về tiền tạm ứng đo đạc số tiền là 5.827.925 (năm triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn chín trăm hai lăm) đồng thì bà T không có ý kiến gì.
Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim L (sau đây gọi là bà L) có đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Kim P trình bày:
Ông Võ Thanh Q và bà Trần Thị Kim L là cô cháu ruột. Ông Q cho bà L biết có mua căn nhà tại địa chỉ số A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và đã mượn của bà L1 là mẹ ruột bà T một số tiền để mua nhà nên có nói muốn mượn bà L số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng để trả cho bà L1. Nghĩ về tình thân cô cháu nên bà L cho ông Q vay theo giấy mượn tiền ngày 08/3/2020, trên giấy mượn tiền này một mình ông Q viết và ký tên. Sau đó, ngày 25/8/2020 ông Q tiếp tục đến để vay thêm số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng để xóa thế chấp ngân hàng căn nhà A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Lần vay này ông Q viết giấy xác nhận tổng khoản nợ là 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng. Trong cả hai hợp đồng vay đều không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả chỉ ghi chung chung là “khi nào giải quyết xong việc gia đình”. Ngày 01/7/2023 bà L có ra thông báo đòi nợ đối với ông Q yêu cầu trả số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng trong thời hạn 15 ngày vì thời gian nợ quá lâu. Ông Q nhận thông báo đòi nợ này cùng ngày. Hết thời gian ghi trong thông báo đòi nợ, ông Q không thanh toán số tiền trên. Nhận thấy quyền lợi bị xâm phạm nên bà Trần Thị Kim L làm đơn yêu cầu độc lập đề nghị tòa giải quyết buộc một mình ông Q trả số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng, bà L không yêu cầu tính lãi suất. Trả một lần ngay sau khi bản án của tòa có hiệu lực pháp luật. Số tiền bà L cho ông Q vay là tài sản riêng không liên quan đến chồng bà L là ông N.
Tại bản tự khai ngày 14/8/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Tấn N trình bày:
Ông N và bà L là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 039, quyển số 01/94 do Ủy ban nhân dân Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/8/1994. Ông N xác định số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng mà bà L cho ông Q mượn là tài sản riêng của bà L, hoàn toàn không liên quan gì đến tài sản chung của vợ chồng. Ông N cam kết lời khai là đúng sự thật và cam kết không tranh chấp, không có yêu cầu gì cũng như không thắc mắc, khiếu nại gì sau này. Đồng thời do ông N bận công việc nên xin vắng mặt tại tất cả buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 902/2023/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ các Điều 5, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, Điều 91, điểm b khoản 1 Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 201, Điều 203, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 357, Điều 401, Điều 410, Điều 457, Điều 458, Điều 459, Điều 462, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các khoản 1 và khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 27, Điều 37, Điều 45, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 195 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điểm g khoản 2 Điều 17, Điều 38 của Luật Công chứng năm 2014 sửa đổi năm 2018;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ khoản 3 Điều 7 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 5, Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào khoản 3, khoản 6 Điều 26, điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh Q:
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Võ Thanh Q về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với trẻ Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015. Bà Lê Thị T tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 và việc cấp dưỡng (bao gồm mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng) cho trẻ Ý theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 1003/2020/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 010886 ngày 07/9/2020 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Võ Thanh Q.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy phần cập nhật biến động ngày 16/9/2020 qua tên bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 có bà T là người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017 của ông Võ Thanh Q.
- Không chấp nhận yêu cầu chia ½ giá trị tài sản là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh tương đương với số tiền 2.357.119.500 (hai tỷ ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười chín ngàn năm trăm) đồng của ông Võ Thanh Q.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Võ Thanh Q về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với trẻ Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015. Bà Lê Thị T tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Võ Lê Như Ý1, sinh ngày 25/11/2015 và việc cấp dưỡng (bao gồm mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng) cho trẻ Ý theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 1003/2020/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Kim L.
Buộc ông Võ Thanh Q có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị Kim L số tiền là 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng, bà L không yêu cầu tính lãi suất. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thanh Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể:
- Đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, ông Q phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
- Đối với yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 010886 ngày 07/9/2020 ký tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu hủy phần cập nhật biến động ngày 16/9/2020 qua tên bà Lê Thị T và trẻ Võ Lê Như Ý1 có bà T là người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CG 983592, số vào sổ cấp GCN: CH03808 do Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2017. Do hai yêu cầu này cùng liên quan tới Hợp đồng tặng cho phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 010886 ngày 07/9/2020 và không được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
- Đối với yêu cầu chia ½ giá trị tài sản nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ A đường T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh tương đương với số tiền 2.357.119.500 (hai tỷ ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm mười chín ngàn năm trăm) đồng. Do yêu cầu này không được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí có giá ngạch trên giá trị tài sản mà ông Q yêu cầu cụ thể số tiền án phí là 79.142.390 (bảy chín triệu một trăm bốn hai ngàn ba trăm chín mươi) đồng.
- Ông Võ Thanh Q phải chịu trên số thanh toán cho bà L số tiền án phí là 102.000.000 (Một trăm lẻ hai triệu) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm ông Q phải chịu là 181.742.390 (một trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm bốn hai nghìn ba trăm chín mươi) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Võ Thanh Q đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017688 ngày 25/11/2022 và số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017689 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Thanh Q còn phải nộp số tiền là 169.442.390 (Một trăm sáu mươi chín triệu bốn trăm bốn hai nghìn ba trăm chín mươi) đồng. Nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bà Trần Thị Kim L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại số tiền tạm ứng án phí 51.000.000 (năm mươi mốt triệu) đồng cho bà Trần Thị Kim L đã nộp theo biên lai thu số 0036055 ngày 08/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lê Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản) và tiền tạm ứng đo đạc:
Ông Q phải chịu tất cả chi phí tố tụng số tiền là 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng. Ông Q đã đóng đủ. Bà Lê Thị T không phài chịu chi phí tố tụng.
Về số tiền tạm ứng đo đạc là 5.827.925 (năm triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn chín trăm hai lăm) đồng: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết phần tạm ứng đo đạc đã nộp khi ký hợp đồng với Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H nên Tòa án không xét.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Thanh Q phải nộp 300.000 đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0036174, ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thanh Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể:
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản; hủy phần cập nhật biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp về chia tài sản sau ly hôn; tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản; Hủy phần cập nhật biến động trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Tranh chấp về chia tài sản sau ly hôn; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Q yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bà T
