Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 48/2024/DS-ST

Ngày 23 tháng 04 năm 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Ngọc Khiêm và bà Phạm Yến Nhi.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2023/TLST-DS về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1950
    • Nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
    • Chỗ ở hiện nay: Tổ H, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T theo Văn bản ủy quyền ngày 09/02/2023):

    • - Ông Trần Thanh S, sinh năm 1977;
      • Nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
      • Chỗ ở hiện nay: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
    • - Ông Trần Thanh H, sinh năm 1982.
      • Nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
  2. Bị đơn: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1979
    • Nơi cư trú: Tổ A, khóm S, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A;
      • Địa chỉ trụ sở: Số H Quốc lộ I, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
    2. Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1982;
      • Nơi cư trú: Tổ A, khóm S, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
    3. Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1984;
      • Nơi cư trú: Tổ H, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
      • Chổ ở hiện nay: Khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang.
    4. Ông Trần Thanh H, sinh năm 1982;
      • Nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
    5. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1977;
      • Nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
      • Chỗ ở hiện nay: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
    6. Ông Trần Thanh S1 (chết ngày 23/4/2013);
    7. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh S1:

      1. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1976;
      2. Ông Trần Chí H1, sinh năm 1999;
      3. Ông Trần Chí H2, sinh năm 1996;
      4. Bà Trần Thị Bảo T3, sinh năm 2003.
      • Nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà, có mặt các ông (bà): Ông Trần Thanh H, ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L, các ông (bà) còn lại đều có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn là ông Trần Thanh H thống nhất trình bày:

Cha ông là ông Trần Văn T và mẹ ông là bà Lê Thị C1, sinh năm 1952 (chết ngày 12/07/2011), cha mẹ ông có tạo lập được diện tích 251,6m² đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (trước đây là khóm X, thị trấn T, huyện T), cha mẹ ông đã được UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp giấy chứng nhận QSD đất số thửa: 39, số tờ bản đồ: 06, số vào sổ H0046Kb, ngày cấp 27/06/2005 đứng tên ông Trần Văn T và bà Lê Thị C1. Trên đất có cất 01 căn nhà trọ gồm 9 phòng, chưa được cấp quyền sở hữu nhà, hiện phòng trọ không hoạt động do ông Trần Văn T đang quản lý. Trong quá trình sử dụng, ông Trần Văn T phát hiện việc cấp GCNQSDĐ cho ông Đinh Văn C bị chồng lấn qua đất của ông Trần Văn T tổng diện tích là 28,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, cụ thể:

  • + Diện tích 20,5m² tại các điểm 12, 58, 8, 77, 78 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 cấp ngày 26/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005;
  • + Diện tích 7,7m² tại các điểm theo 8,72,77 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09156 cấp ngày 09/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005.

Đại diện của nguyên đơn, thống nhất Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, không yêu cầu đo đạc lại.

Hiện trạng diện tích đất chồng lấn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực tế các bên đang sử dụng đúng hiện trạng.

Nay nguyên đơn ông T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 26/9/2022 và Giấy chứng nhận quyền dụng đất số CS09156 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 09/9/2022 cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L.

Bị đơn ông Đinh Văn C trình bày:

Về nguồn gốc đất:

Vào năm 2009, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 69,5m² của ông Nguyễn Văn T4 (hiện nay đi đâu không rõ), với giá 75.000.000 đồng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00502Kb, thửa đất số 80, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Đến ngày 26/9/2022 vợ chồng ông làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN CS09187, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên, diện tích đất không biến động theo diện tích đất ban đầu.

Vào năm 2009, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 127,8m² của ông Nguyễn Văn Đ, đất ở đô thị theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.0151Kb, do UBND huyện T cấp ngày 14/12/2005 do ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T5 đứng tên thửa đất số 81, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang và thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động sang trang IV do Văn phong đăng ký đất đai Chi nhánh T7 ký xác nhận sang cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L. Đến ngày 09/9/2022, vợ chồng ông làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN CS09156, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L.

Hiện diện tích đất ông đã cuốn nền để bảo vệ đất, chứ chưa xây dựng công trình xây dựng hay vật kiến trúc gì trên đất.

Ông Đinh Văn C trình bày: Thống nhất Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, không yêu cầu đo đạc lại.

Qua ý kiến trình bày của ông Trần Thanh H, ông thống nhất trình bày của ông Trần Thanh H là các bên sử dụng đúng hiện trạng, việc chồng lấn là do cơ quan nhà nước đã cấp chồng lấn qua đất của ông Trần Văn T tổng diện tích là 28,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, trong đó cụ thể:

  • + Diện tích 20,5m2 tại các điểm 12, 58, 8, 77,78 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 cấp ngày 26/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005,
  • + Diện tích 7,7m² tại các điểm theo 8, 72, 77 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09156 cấp ngày 09/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, ông thống nhất yêu cầu Tòa án xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hồ Thị Kim L trình bày: Bà L thống nhất như nội dung trình bày của ông Đinh Văn C, không có ý kiến bổ sung. Ngoài ra, bà L còn thống nhất Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, không yêu cầu đo đạc lại.

- Sở T có ý kiến tại Công văn số 42/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 03/01/2024, như sau:

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H.00502Kb với diện tích 69,5m² cấp ngày 16/6/2009 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H0151Kb với diện tích 127,8m² của UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày 14/12/2005 cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T6. Ngày 25/02/2009, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T chỉnh lý biến động với nội dung: chuyển nhượng cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L, tọa lạc thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thị xã T). Do ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L có đơn yêu cầu cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ngày 09/9/2022 và ngày 26/9/2022, Sở T đã cấp đổi 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành DH 637973 (số vào sổ CS09156) và có số phát hành DH 155295 (số vào số CS09187) cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L.

Căn cứ Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định cấp đổi giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất là Sở T. Do đó, việc Sở T thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận theo yêu cầu của ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định pháp luật.

- Các ông (bà): Ông Trần Thanh T1, ông Trần Thanh H, ông Trần Thanh S, bà Trần Thị T2, ông Trần Chí H1, ông Trần Chí H2 và bà Trần Thị Bảo T3. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng các đương sự trên không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không có yêu cầu độc lập.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn.

Bị đơn ông C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L đều giữ nguyên ý kiến, ngoài ra không có ý kiến hay bổ sung gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu buộc bị đơn trả lại diện tích đất do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn chồng lấn đất của phía nguyên đơn theo kết quả đo đạc.

Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn, về yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1]. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, tại phiên tòa có mặt các ông (bà): Ông Trần Thanh H, ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L, các ông (bà) còn lại đều có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
    2. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất chồng lấn và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn. Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
  2. [2]. Về nội dung vụ án:
  3. Nguyên đơn ông Trần Văn T cho rằng việc cấp GCNQSDĐ của ông Đinh Văn C bị chồng lấn qua đất của ông Trần Văn T tổng diện tích là 28,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất chồng lấn cụ thể:

    • + Diện tích 20,5m² tại các điểm 12, 58, 8, 77, 78 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 cấp ngày 26/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005,
    • + Diện tích 7,7m² tại các điểm theo 8, 72, 77 là phần đất chồng ranh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09156 cấp ngày 09/9/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0046Kb, cấp ngày 27/06/2005.

    Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 cấp ngày 26/9/2022 và Giấy chứng nhận quyền dụng đất số CS09156 cấp ngày 09/9/2022, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên. Tuy nhiên, tại phiên toà nguyên đơn xin rút lại đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn.

    Bị đơn ông Đinh Văn C thống nhất trình bày của ông Trần Thanh H đại diện cho ông T, hiện tại các bên đang sử dụng đất đúng hiện trạng, còn việc chồng lấn là do cơ quan nhà nước cấp chồng lấn qua đất ông T, tổng diện tích là 28,2m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 của Công ty TNHH Đ1.

    Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, thì bị đơn ông C thống nhất trả lại diện tích đất chồng lấn.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L thống nhất như nội dung trình bày của ông C, không có ý kiến bổ sung.

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Các ông (bà): Ông Trần Thanh T1, ông Trần Thanh H, ông Trần Thanh S, bà Trần Thị T2, ông Trần Chí H1, ông Trần Chí H2 và bà Trần Thị Bảo T3 đều không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không có yêu cầu độc lập. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  4. [3]. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, theo kết quả thẩm định thì hiện trạng đất tranh chấp thể hiện như trình bày của các bên đương sự. Phần đất của phía nguyên đơn đã xây dựng căn nhà liền ranh đất với bị đơn, còn phần đất của phía bị đơn là đất trống, nhưng bị đơn đã cuốn nền xây gạch hết đất liền ranh đất với nguyên đơn.
  5. Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/9/2023 và bổ sung ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1 thì thể hiện phần đất chồng lấn tổng diện tích là 28,2m².

    Các bên đương sự đều thống nhất với kết quả Bản trích đo hiện trạng khu đất được bổ sung ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, không yêu cầu đo đạc lại và thống nhất kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án.

  6. [4]. Hội đồng xét xử nhận thấy, theo kết quả Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, thì thể hiện tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 là phần đất có diện tích 28,2m², trong đó:
    • + Các điểm 12, 58, 8, 77, 78 có diện tích 20,5m² là phần đất chồng ranh giữa giấy CNQSDĐ số CS09187, do ông C, bà L đứng tên với giấy CNQSDĐ số H0046Kb, do ông T, bà C1 đứng tên.
    • + Các điểm 8, 72, 77 có diện tích 7,7m² là phần đất chồng ranh giữa giấy CNQSDĐ số CS09156 do ông C, bà L đứng tên với giấy CNQSDĐ số H0046Kb, do ông T, bà C1 đứng tên.

    Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của ông T với ông C, bà L đều thống nhất kết quả đo đạc theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1. Phần đất chồng ranh có tổng diện tích 28,2m² tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78, ông C, bà L đồng ý trả lại phần đất chồng ranh cho phía ông T.

    Tại phiên toà, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp pháp luật. Do đó, nghĩ nên chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp.

  7. [5]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T.
  8. Buộc ông Đinh Văn C, bà Hồ Thị Kim L phải trả lại cho ông Trần Văn T, tổng diện tích 28,2m² đất tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, trong đó:

    • + Các điểm 12, 58, 8, 77, 78 có diện tích 20,5m² là phần đất chồng ranh giữa giấy CNQSDĐ số CS09187, do ông C, bà L đứng tên với giấy CNQSDĐ số H0046Kb, do ông T, bà C1 đứng tên.
    • + Các điểm 8, 72, 77 có diện tích 7,7m² là phần đất chồng ranh giữa giấy CNQSDĐ số CS09156 do ông C, bà L đứng tên với giấy CNQSDĐ số H0046Kb, do ông T, bà C1 đứng tên.

    Ông Đinh Văn C, bà Hồ Thị Kim L có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động giảm tổng diện tích 28,2m² tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, thuộc giấy CNQSDĐ số CS09187 ngày 26/9/2022 và giấy CNQSDĐ số CS09156 ngày 09/9/2022 của Sở T cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên.

    Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T về yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09187 ngày 26/9/2022 và giấy CNQSDĐ số CS09156 ngày 09/9/2022 của Sở T cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên.

  9. [6]. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, tổng cộng 7.300.000₫. Ông T, ông C và bà L mỗi bên phải chịu ½ số tiền trên, ông T đã nộp xong. Do đó, ông C và bà L cùng phải có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền 3.650.000 đồng.
  10. [7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông C và bà L cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, 34, 37, 147, 157, 227, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 105, 106, 166, 203 Luật đất đai 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09156 ngày 09/9/2022 và số CS09187 ngày 26/9/2022 của Sở T cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T.
  3. Buộc ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L phải trả lại cho ông Trần Văn T tổng diện tích 28,2m² đất tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, trong đó:
    • + Các điểm 12, 58, 8, 77, 78 có diện tích 20,5m² là phần đất chồng ranh thuộc giấy CNQSDĐ số CS09187 do ông C, bà L đứng tên;
    • + Các điểm 8, 72, 77 có diện tích 7,7m² là phần đất chồng ranh thuộc giấy CNQSDĐ số CS09156 do ông C, bà L đứng tên.
  4. Ông Đinh Văn C, bà Hồ Thị Kim L có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động giảm tổng diện tích 28,2m² tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, thuộc giấy CNQSDĐ số CS09187 cấp ngày 26/9/2022 và giấy CNQSDĐ số CS09156 của Sở T cấp cho ông Đinh Văn C và bà Hồ Thị Kim L đứng tên.
  5. Ông Trần Văn T được quyền sử dụng đất diện tích 28,2m² tại các điểm 12, 58, 8, 72, 77, 78 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1, thuộc giấy CNQSDĐ số H0046Kb ngày 27/06/2005 của UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp cho ông Trần Văn T, bà Lê Thị C1 đứng tên.
  6. Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/4/2024 của Công ty TNHH Đ1 là một phần không tách rời bản án.

  7. Về chi phí tố tụng: Ông C, bà L cùng có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền 3.650.000₫ (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
  8. Về án phí dân sự: Ông C, bà L cùng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  9. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  10. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Thám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger