Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DSST

Ngày: 23/4/2024

V/v “Đòi quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN KIM NGỌC
  • - Các hội thẩm nhân dân:
    1. 1. Ông VÕ VĂN LƯỜNG
    2. 2. Ông MAI HUY MÂN
  • - Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: BÀ NGUYỄN TRẦN HỒNG NHUNG -Thư ký tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
  • - Đại diện VKSND huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà NGUYÊN THỊ XUÂN N - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2022/TLST- DS ngày 17/10/2022 về “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1966.
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. (có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
    1. 1. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1962.
    2. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    3. Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992.
    4. Địa chỉ: Ấp Mỹ Tường B, xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
    5. 2. Võ Thị Bé N1, sinh năm 1966 (có mặt)
    6. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    7. 3. Anh Nguyễn Trọng N2, sinh năm 1988
    8. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 (có mặt)

1

  • Cùng địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 4. Nguyễn Tấn T, sinh năm 2008.
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. (có mặt)
  • Cùng địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 20/7/2022 và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Hiệp đ thời đại diện ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B là anh Nguyễn Văn L trình bày: Cụ Huỳnh Thị T1 sinh năm 1919 (chết năm 2016) cụ T1 có 02 người con tên Phạm Văn BPhạm Thị H, sinh thời cụ có tạo lập phần đất theo sổ mục kê thuộc thửa số 932, diện tích 472m² nay là thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, vào năm 1990 cụ T1 có cho cụ Nguyễn Thị Đ là mẹ của ông Nguyễn Văn C cất nhà thô sơ ở nhờ trên phần đất khoảng 50m², năm 2013 cụ Đ chết, gia đình ông C tiếp tục sinh sống tại phần đất, sau khi cụ T1 chết gia đình bà H tiến hành làm thủ tục kê khai tài sản, anh trai bà H là ông Phạm Văn B cùng hàng thừa kế với bà H, từ chối nhận di sản và tặng toàn bộ tài sản của cụ T1 là thửa đất nêu trên cho bà H nhưng do trên đất có căn nhà gia đình ông C nên bà H chưa thực hiện được, trong vụ án này ông B không tranh chấp không yêu cầu gì.

Nay bà Phạm Thị H yêu cầu hộ gia đình ông Nguyễn Văn C phải di dời căn nhà thô sơ đi nơi khác trả lại phần đất có diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m², (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo bản đồ địa chính khu đất (trích đo) ngày 26/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ký hiệu 1, bà H tự nguyện hỗ trợ cho hộ ông C chi phí di dời 50.000.000 đồng và đồng ý cho hộ ông C tiếp tục lưu cư 03 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Theo bản tự khai ngày 11/11/2022 và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Nguyễn Văn C đồng thời đại diện ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng N2 trình bày: Vào khoảng năm 1982 nhà nước quy hoạch khu dân cư ở xã B (nay là thị trấn B), với chính sách người đến ở trả vàng cho chủ đất, 01 công đất tương đương 04 chỉ vàng, cụ Nguyễn Thị Đ là mẹ ông được đưa đến đất của cụ Huỳnh Thị T1 tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, cụ Đ cất nhà sinh sống một mình vì anh em của ông có gia đình riêng tư, do ông chưa có gia đình nên khi cụ Đ cất nhà, ông về ở chung và sau này vợ con ông về ở chung, do cụ T1 không đồng ý nên tranh chấp kéo dài, cụ Đ về dựng nhà thô sơ sinh sống không có bồi đắp gì thêm trên đất, qua thời gian nhà bị hư hỏng nhưng bà H ngăn cản không cho sửa chữa, nhiều lần ông phải nhờ đến chính quyền địa phương giải quyết thì bà H mới để cho ông làm, hiện

2

căn nhà có kết cấu nền đất, cột xi măng, mái tôn dựng trên phần đất khoảng 40 m².

Nay ông Nguyễn Văn C không đồng ý theo yêu cầu của bà Phạm Thị H, do không có chổ ở khác, ông xin hoàn trả dần giá trị đất theo theo biên bản định giá.

Theo bản tự khai ngày 11/11/2022 và tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà bà Võ Thị Bé N1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Văn C.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự không ý kiến, kiến nghị gì.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy, bị đơn thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp của cụ Huỳnh Thị T1, công văn số 412/UBND ngày 14/11/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B xác định nguồn gốc đất của cụ T1, năm 1982 nhà nước quy hoạch khu dân cư nên chính quyền vận động cụ Đ đến ở trên đất cụ T1 nhưng kết quả xác minh của Tòa án thì không thể hiện văn bản, quyết định của cơ quan thẩm quyền về việc này, năm 1982 thì Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền này nên việc chính quyền địa phương vận động cụ Đ ở trên đất cụ T1 mà không có sự đồng ý của cụ T1 là không đúng quy định. Biên bản làm việc ngày 13/8/1990 tại ủy ban nhân dân xã B, giải quyết có nội dung “... Nguyễn Văn N3 ở đất bà T1 396m², đồng ý trả cho bà T1 396m²; Nguyễn Thị Đ ở đất bà T1 350m², đồng ý trả cho bà T1 350m² (xã chỉ đạo cho ấp B đo giao lại cho bà T1)...” sau ngày 13/8/1990 ông N3 đã trả đất lại, còn cụ Đ cố tình không trả là trái quy định pháp luật, ông C thừa nhận chính quyền vận động cụ Đ đến sống trên đất cụ T1 vì anh, chị em ông đã có gia đình riêng, sau khi cụ Đ cất nhà ông đến ở cùng và sau đó vợ con ông ở, cụ Đ chết ông tiếp tục ở và xác định gia đình cụ T1 tranh chấp đòi đất liên tục do không có chổ ở nên không trả, những hộ ở trên đất cụ T1 giống trường hợp cụ Đ đã trả đất cho cụ T1, ông C thừa nhận còn phần đất trước đây cụ Đ cất nhà ở trước khi về ở trên đất cụ T1 trồng mít có mộ của cụ Đ và phần đất do cụ Đ đứng tên ông C làm thủ tục sang tên nhưng đã rút lại hồ sơ không tiếp tục sang tên, hiện nay con trai ông C cũng có nhà riêng, ông C thường hay lui tới, do đó ông C cho rằng không còn chổ ở khác là không đúng, mặc dù thửa đất tranh chấp theo mục kê 299 do cụ Đ kê khai nhưng cấp giấy cho ông Đ nên đã bị thu hồi do đó việc kê khai của cụ Đ là không phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời 50.000.000 đồng cho hộ gia đình ông C và cho thời gian lưu cư 03 năm tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất”; theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Án nhân dân huyện Cai Lậy.

[2] Về nội dung: Đại diện nguyên đơn đồng thời đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B trình bày, cụ Huỳnh Thị T1 sinh năm 1919 (chết năm 2016), có 02 người con tên Phạm Văn BPhạm Thị H, cụ có tạo lập phần đất theo sổ mục kê thuộc thửa số 932, diện tích 472m² nay là thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, năm 1990 cụ T1 có cho cụ Nguyễn Thị Đ là mẹ của ông Nguyễn Văn C dựng nhà thô sơ ở nhờ trên phần đất khoảng 50m², năm 2013 cụ Đ chết, gia đình ông C tiếp tục sinh sống tại phần đất, sau khi cụ T1 chết gia đình bà H tiến hành làm thủ tục kê khai tài sản, ông B cùng hàng thừa kế với bà H từ chối nhận di sản và tặng di sản cụ T1 là thửa đất nêu trên cho bà H, do trên đất có căn nhà gia đình ông C nên bà H chưa thực hiện được, ông B không tranh chấp không yêu cầu gì, bà H yêu cầu hộ gia đình ông C di dời nhà trả đất; Bị đơn đồng thời là đại diện ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng N2 cho rằng, khoảng năm 1982 nhà nước quy hoạch khu dân cư ở xã B (nay là thị trấn B), với chính sách người đến ở trả vàng cho chủ đất, 01 công đất tương đương 04 chỉ vàng, cụ Đ là mẹ ông được đưa đến đất của cụ T1 cất nhà sinh sống, ông đến sống cùng cụ Đ và sau này vợ con ông cũng sống tại đây, do cụ T1 không đồng ý nên tranh chấp kéo dài, khi về phần đất sinh sống, mẹ ông dựng nhà thô sơ không có bồi đắp gì trên đất, nhiều lần nhà hư hỏng, bà H không cho sửa, ông nhờ chính quyền giải quyết, bà H mới cho ông sửa nhà, hiện căn nhà có kết cấu nền đất, cột xi măng, mái tôn dựng trên phần đất khoảng 40 m², ông không đồng ý theo yêu cầu của bà H, do không có chỗ ở khác nên xin hoàn trả dần cho bà H giá trị đất theo biên bản định giá. Người có quyền lợi và nghĩa cụ liên quan bà Võ Thị Bé N1 thống nhất lời trình bày của ông C.

[3] Theo bản đồ khu đất trích đo của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 26/12/2022, biên bản định giá, biên bản xem xét thẩm định thực tế tại chỗ cùng ngày 21/12/2022:

Đất tranh chấp có diện tích 171m² thuộc thửa số 402, tờ bản đồ số 26 diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, có vị trí như sau:

  • + Hướng bắc giáp phần đất còn lại của thửa 402
  • + Hướng nam giáp phần đất còn lại của thửa 402

4

  • + Hướng đông giáp đường K. Nhựa
  • + Hướng tây giáp phần đất còn lại của thửa 402
  • - Căn cứ Quyết định số 32/2020/QĐ-UBND ngày 21/12/2020 của UBND tỉnh T Ban hành quy định về Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
  • - Phần đất tranh chấp thuộc khu vực 02, vị trí 01, có đơn giá: 150.000 đồng/m2. Theo khảo sát giá thị trường khu đất có vị trí tương đồng, đơn giá: 710.000 đồng/m2.

II. Công trình nhà trên đất:

  • - Căn cứ Quyết định số 04/2021/QD-UBND ngày 04/02/2021 của UBND tỉnh ban hành bảng đơn giá xây dựng nhà ở và vật kiến trúc thông dụng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
  • Nhà: Kết cấu: mái tôn, kèo gỗ, cột bê tông cốt thép, nền đất, vách gỗ; Diện tích: 8,85m x 6,9m = 61,065m²; Đơn giá: 1.383.000đồng/m2. Giá trị thực tế: 84.452.85 đồng/m²; Giá trị còn lại 20%; Trị giá 16.890.579 đồng.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tuấn T2 di dời nhà thô sơ trả lại phần đất có diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cho bà Phạm Thị H, theo bản đồ địa chính khu đất (trích đo) ngày 26/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, ký hiệu 1. Thấy rằng:

4.1 Tại phiên tòa các đương sự trình bày thống nhất về nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Huỳnh Thị T1 cho cụ Nguyễn Thị Đ ở theo quy hoạch khu dân cư vào năm 1982 theo đó cụ Đ phải trả vàng cho cụ T1 tương ứng diện tích đất sử dụng, do cụ T1 không đồng ý nên tranh chấp phát sinh từ đó. Bị đơn ông C cung cấp một biên bản làm việc ngày 13/8/1990 (bản photo) không có bản chính của Ủy ban nhân dân xã B, chứng kiến cho các đương sự về việc trả hoa lợi về đất huy hoạch dân cư và một tờ giấy ghi ý kiến xem xét đơn khiếu nại của cụ Đ ngày 27/11/2005 (bản photo) không có bản chính; Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 28/3/2024 đối với ông Phạm Thành C1, đại diện Ủy ban nhân dân xã B tham dự buổi làm việc ngày 13/8/1990, ông C1 xác định do cụ Đ và cụ T1 không thỏa thuận được nên tranh chấp; Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 13/3/2024 đối với ông Huỳnh Văn R, nguyên trước đây là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, ông R nghe nói cụ Đ đến ở trên đất cụ T1 theo chủ trương nhà nước, do không thỏa thuận được nên tranh chấp, ngày 27/11/2005 ông R xác nhận đơn khiếu nại của cụ Đ nội dung là các bên tranh chấp phải nhờ đến cơ quan có thẩm quyền, không được xua đuổi người đang ở trên đất; Bị đơn cho rằng trước đây

5

Ủy ban nhân dân xã B vận động cụ Đ về sinh sống trên đất cụ T1 theo chủ trương quy hoạch khu dân cư tại địa phương, ngày 21/02/2024 Tòa án xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn B thì việc cụ Đ ở trên đất cụ T1 thực hiện theo chủ trương chung của nhà nước nhưng không thể hiện bằng văn bản, quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền, do vậy việc Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B) vận động cụ Đ về cất nhà sống trên đất cụ T1 mà không được sự đồng ý của cụ T1, là không đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, theo biên bản ngày 13/8/1990 thể hiện Ủy ban nhân dân xã B chứng kiến trả huê lợi về đất huy hoạch dân cư trong đó có nội dung “... Nguyễn Văn N3 ở đất bà T1 396m², đồng ý trả cho bà T1 396m²; Nguyễn Thị Đ ở đất bà T1 350m², đồng ý trả cho bà T1 350m² (xã chỉ đạo cho ấp B đo giao lại cho bà T1)...” sau ngày 13/8/1990 ông N3 đã trả đất lại đất còn cụ Đ vẫn tiếp tục ở lại là không ngay tình, năm 2013 cụ Đ chết, ông C tiếp tục sinh sống trên đất và sửa chữa nhà nhưng hiện nay phía gia đình bà H cũng không đồng ý, ông C phải nhờ đến chính quyền địa phương can thiệp thì mới sửa được như hiện nay. Từ đó có cơ sở xác định, phần đất có diện tích 171m² gắn liền căn nhà diện tích 8,85m x 6,9m của ông C thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang là của cụ T1, các đương sự tranh chấp liên tục từ năm 1982 cho đến nay.

4.2 Theo hồ sơ thu thập tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, dựa trên sơ đồ giải thể thì vị trí thửa đất 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang phù hợp vị trí thửa số 932, diện tích 472m² được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ1 theo đơn đăng ký ngày 02/8/1996 do bà Nguyễn Thị Đ kê khai đăng ký, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này hiện Chi nhánh văn phòng đất đai đang lưu trữ do công chức địa chính xã nộp lại và và theo công văn số 412/UBND ngày 14/11/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn B xác định, thời điểm trước đây tên Nguyễn Văn Đ1 không có tại vị trí thửa đất nên Giấy chứng nhận đã bị thu hồi giao về lưu trữ, sự việc này cụ Đ cũng không khiếu nại gì. Do đó việc cụ Nguyễn Thị Đ tự ý kê khai đứng tên thửa đất số 932, diện tích 472m² nay là thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) là không đúng theo quy định pháp luật vì đây là tài sản thuộc quyền sử dụng của cụ Huỳnh Thị T1.

4.3 Bị đơn ông Nguyễn Văn C và người cùng hộ bà Nguyễn Thị Bé N4 cho rằng, hiện nay gia đình không có chỗ ở khác, yêu cầu tiếp tục ở lại trên đất, đồng ý hoàn trả cho bà H giá trị đất theo biên bản định giá nhưng vì hoàn cảnh khó khăn xin trả dần. Xét thấy, tại phiên Tòa bị đơn trình bày, hiện nay gia đình còn phần đất diện tích hơn 500m² nhưng nằm vị trí giữa đồng, đi lại khó khăn, không thuận tiện xây dựng nhà để ở, từ đó có cơ sở xác định hộ bị đơn vẫn còn chỗ ở khác, ngoài ra đại diện nguyên đơn không đồng ý, nên không có cơ sở xem

6

xét. Từ những nhận định tại các tiểu mục 4.1, 4.2. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn C xác định, khi cụ Đ về sống trên phần đất của cụ T1 chỉ dựng căn nhà thô sơ, không tôn tạo gì thêm trên đất, năm 2013 cụ Đ chết, căn nhà bị hư hỏng, gia đình ông sửa san lại để tránh mưa nắng. như hiện nay. Căn cứ biên bản đo đạc định giá và xem xét thẩm định thực tế tại chổ ngày 21/12/2022, nhà có kết cấu mái tôn, kèo gỗ, cột bê tông cốt thép, nền đất, vách gỗ, diện tích ngang 8,85m, dài 6,9m trị giá 16.890.579 đồng, tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời số tiền 50.000.000 cho hộ gia đình bị đơn, đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn C được tiếp tục lưu cư trong thời hạn 03 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Do xác định phần đất tranh chấp có diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thuộc quyền sử dụng của cụ Huỳnh Thị T1, cụ T1 chết năm 2016, căn cứ lời trình bày của bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn B và giấy cam kết hàng thừa kế có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn B ngày 12/10/2022, hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 gồm bà Phạm Thị H, sinh năm 1966 và ông Phạm Văn B, sinh năm 1962, theo bản tự khai ngày 15/12/2022 và tại phiên tòa hôm nay đại diện ủy quyền của ông B xác định, ông B từ chối nhận di sản và tặng phần di sản ông được hưởng trong thửa đất đang tranh chấp cho em gái là bà Phạm Thị H, trong vụ án này ông không tranh chấp, không yêu cầu gì. Do đó phần đất tranh chấp có diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Phạm Thị H được thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh theo quy định pháp luật.

[8] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Đối với chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu các chi phí tố tụng, đã nộp xong.

[10] Về án phí: các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

7

án. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định nên Hội đồng xét xử miễn án phí của ông C.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 của bộ luật tố tụng dân sự; Điều 155, 158, 164, 165, 166, 221 của Bộ luật dân sự; Điều 166 Luật đất đai

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.

1.1 Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T di dời căn nhà ngang 8,85m dài 6,9m có kết cấu mái tôn, kèo gỗ, cột bê tông cốt thép, nền đất, vách gỗ, trả lại cho bà Phạm Thị H phần diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo bản đồ địa chính khu đất (trích đo) ngày 26/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, ký hiệu số 1, có vị trí tứ cận như sau:

  • + Hướng bắc giáp phần đất còn lại của thửa 402
  • + Hướng nam giáp phần đất còn lại của thửa 402
  • + Hướng đông giáp đường K. Nhựa
  • + Hướng tây giáp phần đất còn lại của thửa 402 (Có sơ đồ kèm theo)

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Phạm Thị H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tranh chấp theo quy định pháp luật.

1.2 Ghi nhận bà Phạm Thị H tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

8

1.3 Ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T được tiếp tục lưu cư trong thời hạn 03 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu chi phí tố tụng, bà đã nộp xong.

3. Về án phí:

  • - Ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông C được miễn án phí, bà N1, anh N2 phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự.
  • - H1 lại cho bà Phạm Thị H 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016787 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

9

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi Cục THADS huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Kim Ngọc

10

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: ...../2024/DSST

Cai Lậy, ngày 23 tháng 4 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY

* Với thành phần Hội đồng xét xử:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim N5.
  • - Các Hội thẩm:
  • 1- Ông Võ Văn L1
  • 2- Ông Mai Huy M

Vào hồi . . . . . giờ . . . . . ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 515/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022, giữa:

  • · Nguyên đơn: Chị Bà Phạm Thị H, sinh năm 1966
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. (có mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
    1. 1. ông Phạm Văn B, sinh năm 1962
    2. Địa chỉ : Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    3. Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992.
    4. Địa chỉ: Ấp Mỹ Tường B, xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
    5. 2. Võ Thị Bé N1, sinh năm 1966 (có mặt)
    6. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    7. 3. Nguyễn Trọng N2, sinh năm 1988
    8. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964
    9. Cùng địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    10. 4. Nguyễn Tấn T, sinh năm 2008
    11. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 (có mặt)
    12. Cùng địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Sau khi xem xét các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án như sau:

I. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: - Kết quả biểu quyết: 3/3.

Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa.

II. Về điều luật áp dụng:- Kết quả biểu quyết: 3/3.

  • - Áp dụng Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 của bộ luật tố tụng dân sự; Điều 155, 158, 164, 165, 166, 221 của Bộ luật dân sự; Điều 166 Luật đất đai
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

III. Về nội dung: - Kết quả biểu quyết: 3/3.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.

11

1.1 Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T di dời căn nhà ngang 8,85m dài 6,9m có kết cấu mái tôn, kèo gỗ, cột bê tông cốt thép, nền đất, vách gỗ, trả lại cho bà Phạm Thị H phần diện tích 171m² thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 26, diện tích 378,5 m² (đo đạc thực tế 320,6m²) tại khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo bản đồ địa chính khu đất (trích đo) ngày 26/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ký hiệu số 1. (Có sơ đồ kèm theo)

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Phạm Thị H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tranh chấp theo quy định pháp luật.

1.2 Ghi nhận bà Lê Thị H2 tự nguyên hổ trợ chi phí di dời cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

1.3 Ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Tấn T được tiếp tục lưu cư trong thời hạn 03 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu chi phí tố tụng, bà đã nộp xong.

3. Về án phí:

  • - Ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Bé N1, anh Nguyễn Trọng N2 phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, ông C được miễn án phí, bà N1, anh N2 phải chịu 200.000đ án phí dân sự.
  • - H1 lại cho bà Phạm Thị H 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016787 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

12

ة THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

13

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi Cục THADS huyện Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

14

Nguyễn Kim Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất giữa H và C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger