TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST
Ngày: 22-8-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và
tranh chấp hợp đồng đổi đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Hoà
- - Ông Nguyễn Văn Em
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án dân sự thụ lý số: 114/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972
Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. - Bị đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm 1963
Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh
Địa chỉ: Khóm C, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. - Người đại diện hợp pháp cho Chủ tịch UBND huyện C: Ông Nguyễn Hữu K, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh
- - Bà Lê Thị N, sinh năm 1968
- - Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1999
- - Ông Nguyễn Phúc K1, sinh năm 2004
Cùng địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. - - Bà Nguyễn Thị Hoàng D, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh - - Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1997
- - Ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1983
- - Ông Nguyễn Dương T2, sinh năm 1981
- - Ông Nguyễn Thành Ý, sinh năm 1993
Cùng địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp cho bà Y, ông C, ông T2, ông Ý có bà Dương Thị T, sinh năm 1963. Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo văn bản uỷ quyền ngày 04/3/2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Năm 2013 tôi có nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông Nguyễn Văn K2 một miếng đất hình tam giác (phần còn lại thửa đất sau khi nhà nước làm đường đi giáp với đất của tôi) thuộc thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích khoảng 393,3m² toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 10.000.000 đồng. Hai bên có làm giấy tay tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013 có xác nhận của chính quyền địa phương, tôi đã giao đủ tiền và hiện tôi đang sử dụng đất lấp trũng để trồng cây ăn trái. Sau khi tôi nhận chuyển nhượng thì ông K2 chết đến nay chưa sang tên cho tôi. Nay tôi yêu cầu gia đình bà Dương Thị T tiếp tục thực hiện tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013 phải có nghĩa vụ sang tên thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích khoảng 393,3m² cho vợ chồng tôi đứng tên.
Đối với phần lối đi thể hiện trong tờ sang đổi đất là phần đất ngang 01 mét dài băng ngang qua đất nằm trên thửa 304, tờ bản đồ số 9 trong tổng diện tích 1.600m², loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đất này có nguồn gốc của cha tôi tên Nguyễn Văn T3 để lại cho tôi, lối đi này hình thành từ rất lâu trước khi tôi sang đổi đất. Tại thời điểm sang đổi đất cho ông Nguyễn Văn K2, tôi có thoả thuận sẽ cho gia đình ông K2 một lối đi ra vì lúc đó chưa làm lộ nhựa chưa có lối đi ra. Sau khi đo đạc xác định phần lối đi trên là lối đi công cộng của Nhà nước quản lý nên tôi không có quyền để công nhận cho gia đình vợ ông K2 là bà Dương Thị T lối đi đó.
Tại đơn phản tố đề ngày 29/02/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Dương Thị T trình bày: Năm 2013 chồng tôi ông Nguyễn Văn K2 có làm giấy tay sang đổi đất cho ông Nguyễn Văn H một miếng đất hình tam giác (phần còn lại thửa đất sau khi nhà nước làm đường đi giáp với đất của ông H) thuộc thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích khoảng 393,3m² toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh và ông H giao cho tôi phần đất có lối đi ngang 1,5 mét dài hết đất diện tích khoảng 33m² đất của gia đình ông H cho gia đình tôi để sử dụng, đồng thời ông H đồng ý đưa cho chúng tôi thêm số tiền 10.000.000 đồng việc sang đổi đất trên có làm giấy tay và có sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Sau khi tôi nhận chuyển nhượng thì ông K2 chết. Hiện nay phần đất đổi đã được các bên sử dụng đến nay chưa sang tên.
Nay gia đình tôi thống nhất tiếp tục thực hiện theo tờ đổi đất lập ngày 19/6/2013, gia đình tôi đồng ý tiếp tục sang tên thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích khoảng 393,3m² cho vợ chồng ông H đứng tên. Đồng thời ông H phải thực hiện theo tờ đổi đất phần đất có lối đi ngang 1,5 mét dài hết đất diện tích 32,7m² không được cản trở lối đi trên nếu sau này Nhà nước trả phần đất có lối đi này cho gia đình ông H thì tôi yêu cầu vợ chồng ông H sang tên cho tôi phần lối đi này như đã thoả thuận trong tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N: Thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Văn H, không có ý kiến bổ sung.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hoàng D: Thống nhất lời trình bày của bà Dương Thị T, không có ý kiến bổ sung.
Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn H. Công nhận quyền sử dụng thửa đất 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích 393,3m² cùng toàn bộ tài sản trên đất cho hộ Nguyễn Văn H. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Dương Thị T yêu cầu ông H sang tên diện tích 32,7m² cho bà T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: ông Nguyễn Văn H yêu cầu gia đình bà Dương Thị T tiếp tục thực hiện hợp đồng tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013 phải có nghĩa vụ sang tên quyền sử dụng đất thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích 393,3m², toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H đứng tên. Bà Dương Thị T phản tố yêu cầu ông H phải thực hiện việc đổi đất theo tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013 không được cản trở lối đi ngang 1,5 mét dài hết đất diện tích 32,7m² đất của gia đình ông H hiện nay thuộc phần đất công cộng do nhà nước quản lý. Vụ kiện trên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi đất” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Việc tham dự của các đương sự tại phiên tòa: ông Nguyễn Hữu K, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Phúc K1 có đơn xin vắng mặt; bà Nguyễn Thị Hoàng Y, ông Nguyễn Hoàng C, ông Nguyễn Dương T2, ông Nguyễn Thành Ý uỷ quyền cho bà Dương Thị T nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thấy rằng, năm 2013 ông Nguyễn Văn K2 là chồng bà Dương Thị T có làm giấy tay sang đổi đất cho ông Nguyễn Văn H một miếng đất hình tam giác (phần đất còn lại sau khi Nhà nước làm đường nhựa giáp với đất của ông H) thuộc thửa đất số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích 393,3m² toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh giá 10.000.000 đồng, đồng thời ông H đổi cho phần đất có lối đi ngang 1,5 mét dài hết đất 23,17 mét diện tích 32,7m², hiện trạng là đường đal do người dân cùng làm trên đất ông H cho gia đình ông K2 sử dụng làm lối đi, việc sang đổi đất trên các bên có làm giấy tay “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013” có sự chứng kiến của chính quyền địa phương nhưng không có chứng thực và chưa làm thủ tục sang tên, ông K2 đã giao đất cho ông H sử dụng đất đã cải tạo trồng cây ăn trái cho đến nay. Nguyên nhân tranh chấp do sau khi ông K2 chết phía gia đình ông H gây khó khăn, móc đal trên phần lối đi nên bà T không chịu sang tên quyền sử dụng đất cho ông H.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bị đơn bà Dương Thị T đều thống nhất việc chuyển đổi đất như giấy tay “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013”. Theo đó, bà Dương Thị T đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N đứng tên đất thửa số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích 393,3m², loại đất CLN, toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (đất có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn K2 chết để lại bà Dương Thị T sau khi chuyển nhượng cho ông H) nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận trên.
[5] Xét về yêu cầu phản tố của bị đơn, bà Dương Thị T yêu cầu ông H phải thực hiện việc đổi đất theo “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013”, không được cản trở lối đi của gia đình bà T ngang 1,5 mét dài hết đất diện tích 32,7m² nằm trên của ông H, sau khi đo đạc xác định phần lối đi trên là lối đi công cộng của Nhà nước quản lý nên sau này nếu Nhà nước trả lại lối đi trên cho ông H thì yêu cầu ông H không được cản trở lối đi trên. Ông H, bà N cho rằng, phần lối đi thể hiện trong “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013” là phần đất ngang 01 mét dài băng ngang qua đất nằm trên đất ông H thuộc thửa 304, tờ bản đồ số 9 trong tổng diện tích 1.600m², loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đất này có nguồn gốc của cha ruột tên Nguyễn Văn T3 để lại cho ông H, lối đi này hình thành từ rất lâu trước khi sang đổi đất, việc cho gia đình bà T lối đi trên là do năm 2013 gia đình bà T chưa có lối đi, nay Nhà nước làm lộ nhựa qua đất bà T đã có lối đi nên nếu Nhà nước trả đất thì ông H không đồng ý cho gia đình bà T đi trên phần lối đi này. Theo kết quả khảo sát số 129/CNHCL ngày 16/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thể hiện phần lối đi tranh chấp ngang 1,5 mét dài 23,17 mét, diện tích 32,7m² hiện trạng là đường lót đal (phần A, B trong sơ đồ khu đất) thuộc phần đất công cộng nhà nước quản lý. Như vậy, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 10 Luật đất đai 2013 và Điều 43 Luật Giao thông đường bộ 2008 thì trong phạm vi đất dành cho đường bộ, không được xây dựng các công trình, gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ. Trường hợp việc sử dụng đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ thì người sử dụng đất phải có biện pháp khắc phục. Theo quy định trên, gia đình bà T được quyền tiếp tục đi lại lối đi ngang 1,5 mét dài hết đất diện tích 32,7m² đất trên phần đất công cộng thuộc quản lý của Nhà nước, không ai được quyền cản trở trừ trường hợp Nhà nước có quy định khác. Việc Nhà nước có trả lại lối đi này cho ông H hay không do chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền nên chưa có căn cứ để xem xét giải quyết.
[6] Về chi phí thẩm định, định giá: Tổng chi phí chi thẩm định, định giá 4.642.000 đồng, ông H đã nộp tạm ứng xong. Do các bên thoả thuận được với nhau nên ông H và bà T mổi người phải chịu 1/2 chi phí thẩm định, định giá trên và sẽ được hoàn trả lại cho ông ông H sau khi thu từ bà T.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 150.000 đồng. Bà Dương Thị T thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn nên bà T được miễn nộp.
[8] Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát đối với yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa thoả mãn hết yêu cầu của bà T. Bởi lẽ, bà T có hai yêu cầu phản tố là yêu cầu ông H không được cản trở lối đi và công nhận lối đi cho bà T theo “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013”. Theo đó, như phân tích trên thì việc bà T yêu cầu ông H không được cản trở lối đi công cộng là phù hợp với quy định pháp luật nên yêu cầu này của bà T cần được chấp nhận còn phần bà T yêu cầu công nhận lối đi cho bà T như Kiểm sát viên đã phân tích không được chấp nhận là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 164 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 20, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị T về tiếp tục thực hiện “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013”. Theo đó, bà Dương Thị T sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N đứng tên quyền sử dụng đất thửa số 2637, tờ bản đồ số 5, diện tích 393,3m², loại đất CLN, toạ lạc ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Phần đất theo sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 130/CNHCL ngày 16/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Đất có vị trí tứ cận như sau:
- Hướng Bắc giáp đường đất và kênh có cạnh dài 26,88 mét;
- Hướng Tây giáp đường đất và kênh có cạnh dài 21,80 mét và cạnh dài 7,52 mét;
- H-Nam giáp đường nhựa có cạnh dài 4,65 mét và cạnh dài 37,27 mét;
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Dương Thị T. Bà Dương Thị T được tiếp tục đi lối đi ngang 1,5 mét dài 23,17 mét, diện tích 32,7m², hiện trạng là đường lót đal nằm trên phần đất công cộng do Nhà nước quản lý (kèm theo kết quả khảo sát số 129/CNHCL ngày 16/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thể hiện phần A, B trong sơ đồ khu đất), nghiêm cấm các bên hủy hoại mục đích sử dụng đất, không ai được quyền cản trở lối đi trên trừ trường hợp Nhà nước có quy định khác.
- Về chi phí thẩm định, định giá: Tổng chi phí chi thẩm định, định giá 4.642.000 đồng, ông H phải chịu 2.321.000 đồng (Hai triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn đồng) ông H đã nộp tạm ứng xong. Bà T phải chịu 2.321.000 đồng (Hai triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn đồng) sẽ được hoàn trả lại cho ông ông H sau khi thu từ bà T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002362 ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long, tình T, số tiền còn thừa ông H được nhận lại. Bà Dương Thị T thuộc diện người cao tuổi, có đơn xin miễn nên bà T được miễn nộp.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi đất
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Tự về tiếp tục thực hiện “Tờ sang đổi đất ngày 19/6/2013”. Theo đó, bà Dương Thị Tự sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Hùng, bà Lê Thị Nhãn đứng tên
