TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HSST Ngày: 22 – 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Bùi Quốc Kiên
- Ông: Nguyễn Văn Dương
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu T và ông Lê Ngọc T1 - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXX- ST, ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng L; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, Quê quán: tại xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Đăng P, sinh năm 1954; Con bà: Bùi Thị Q, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Lâm G, sinh năm 1988; Con: có 02 con; lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Ngày 30/3/2022, bị TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày 30/3/2022 về tội cố ý gây thương tích theo Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HSST; Tiền sự: Không.
Nhân Thân:
- Ngày 27/12/2010, bị TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 36 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2010/HS-ST. Đến ngày 15/9/2013, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.
- Ngày 10/4/2015, bị TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2015/HS-ST. Đến ngày 28/11/2015, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Đậu Văn T2; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988, Quê quán: tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đậu Văn B, sinh năm 1963 và con bà: Lê Thị T3, sinh năm 1964. Vợ: Cao Thị T4, sinh năm 1996; Bị cáo có 03 con; lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/01/2024 cho đến ngày 25/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Chu Đình Q1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Chu Đình K, sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1966; Vợ: Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm 2001; Có 02 con; con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 17/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Lê Thạc L2; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988, Quê quán: tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Lê Thạc H, sinh năm 1961 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1968; Vợ: Đinh Thị Hồng N – sinh năm 1996, đã ly hôn; Tiền án: Ngày 22/4/2022, bị TAND thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2022/HS-ST. Đến ngày 06/6/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/01/2021, bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Cao Văn H1; Giới tính: Nam; Sinh năm 2001, Quê quán: tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện Y - Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Cao Văn L4, sinh năm 1959 (đã chết) và con bà Luyện Thị N1, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/01/2024 cho đến ngày 25/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên toà
Họ và tên: Nguyễn Bá Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000, Quê quán: tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Bá S, sinh năm 1975 và con bà: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 17/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Nguyễn Sỹ T6; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, Quê quán: tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Sỹ Q2, sinh năm 1942 và con bà: Lê Thị T7, sinh năm 1950; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 17/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- anh Ngũ Thanh H3 – Chủ nhà xe N2 – Vắng mặt
- anh Ngô Sỹ B1 – Chủ nhà xe A – có mặt
Địa chỉ: Tổ B, phường N, quận C, TP ..
Địa chỉ: Khối B, thị trấn N, huyện N, Nghệ An.
* Người làm chứng: Đinh Xuân H4 – vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, Nguyễn Đăng L, sinh năm 1987, trú tại khối G, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An (là lái xe thuê của nhà xe “Nhuận Năm” do ông Ngũ Thanh H3, sinh năm 1969, trú tại tổ B, phường N, quận C, thành phố Hà Nội làm chủ) điều khiển xe ô tô khách BKS 29H-869.04 chở khách từ xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đi thành phố Hà Nội, trên xe còn có anh Đinh Xuân H4, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cũng là lái xe thuê và Chu Đình Q1, sinh năm 1995, trú tại xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Lê Thạc L2, sinh năm 1988, trú tại Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, là phụ xe. Do trước đó có mâu thuẫn trong việc tranh dành khách với xe ô tô khách BKS 37F-007.17 của công ty TNHH A1, có địa chỉ tại khối B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An giao cho Đậu Văn T2, sinh năm 1988, trú tại xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, là lái xe thuê của Công ty điều khiển, nên khi đi đến ngã ba N thuộc xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, thì L cho xe dừng bên lề đường đợi xe ô tô khách của T2 đi đến để nói chuyện (BL 497-508; 819-831).
Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Chu Đình Q1 nhìn thấy xe ô tô khách BKS 37F-007.17 đi đến nên dơ tay vẫy dừng lại, rồi Q1 cùng với L và Lê Thạc L2 đi lại xe ô tô khách BKS 37F-007.17, nhìn thấy Cao Văn H1, sinh năm 2001, trú tại xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là phụ xe đứng ở cửa lên xuống của xe. L túm tay của H1 kéo xuống đường, rồi L và Q1 dùng tay đấm vào đầu H1 (BL 497-530; 819-860). Thấy H1 bị đánh, T2 cầm 01 thanh gỗ trên xe ô tô BKS 37F-007.17 chạy xuống đường dơ lên định đánh L, Q1 và L2, thì Q1 chạy lại xe ô tô khách 29H-869.04 lấy 03 ống tuýp sắt đưa cho L 01 ống, L2 01 ống và Q1 cầm 01 ống, rồi cả ba chạy quay lại đánh T2 và H1. Thấy vậy H1 cũng chạy lên xe ô tô BKS 37F-007.17 lấy 01 thanh gỗ xuống để đánh nhau, cùng lúc này Hoàng Viết H5 cũng cầm 01 bình chữa cháy trên xe ô tô BKS 37F-007.17 đi xuống đường đứng cạnh T2 và H1 nhưng không có động thái gì. Thấy nhóm của T2 cũng cầm hung khí, nên L, Q1 và L2 lên xe ô tô khách 29H - 869.04; T2 và H1 cũng lên xe ô tô BKS 37F-007.17, rồi L và T2 điều khiển xe chạy trên Quốc lộ A theo hướng đi thành phố Hà Nội. Trên đường đi, L và T2 điều khiển xe ô tô lùa đuổi, lạng lách, đánh võng, chèn ép nhau từ ngã ba N thuộc xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đến phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa trên quãng đường dài khoảng 80km. Quá trình lùa đuổi, chèn ép nhau, 02 xe ô tô khách trên có dừng lại tại ngã ba D, tại xã D và xã D thuộc huyện D, tỉnh Nghệ An, lái xe và phụ xe chửi bới, thách thức đánh nhau, gây náo loạn, làm mất trật tự nơi công cộng các khu vực này. Khi đi đến phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, xe của L còn dừng lại đón bạn của L2 là Nguyễn Bá Đ, sinh năm 2000, trú tại Thôn A, xã Q, thị xã H lên xe đi Hà Nội; trên đường đi, Đ được nghe nói về sự việc 02 xe ô tô khách có mâu thuẫn với nhau. Trong khoảng thời gian này, Chu Đình Q1 còn gọi điện thoại cho Nguyễn Sỹ T6 đang điều khiển xe ô tô khách BKS 29B-407.56 trên đường từ Hà Nội về Nghệ An, bảo T6 quay đầu xe lại cùng với xe ô tô khách của L điều khiển chặn dừng xe ô tô khách BKS 37F-007.17 để giải quyết mâu thuẫn. Khi đi đến tổ dân phố C, phường H, thị xã N, T6 cho xe quay đầu đi sang phần đường xe ngược chiều cùng với xe ô tô khách của L chặn xe ô tô khách BKS 37F-007.17 do T2 điều khiển dừng lại, sau đó Q1, L2 và Đ, mỗi người cầm 01 ống tuýp sắt đi xuống đường yêu cầu T2 và H1 xuống xe để giải quyết mâu thuân, nhưng T2 và H1 không xuống nên một lúc sau cả ba xe rời khỏi hiện trường. Sự việc xảy ra gây ùn tắc, cản trở cho các phương tiện tham gia giao thông trên Quốc lộ A trong thời gian khoảng 07 phút, trên đoạn đường dài khoảng 50m đến 100m (BL 229-372; 429-562; 809-878).
Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi điều khiển xe ô tô lùa đuổi, lạng lách, đánh võng, chèn ép, chặn xe nhau; chửi bới, thách thức và cầm hung khí dọa đánh nhau trên tuyến Quốc lộ A, gây náo loạn nơi công cộng, làm cản trở, ùn tắc giao thông, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự như đã nêu trên. Riêng bị cáo Đậu Văn T2 không thừa nhận hành vi lạng lách, đánh võng, chèn ép trên đường chỉ thừa nhận hành vi dùng gậy gỗ để chửi bới, đe doạ nhau.
Đối với Hoàng Viết H5 có hành vi cầm 01 bình chữa cháy trên xe ô tô BKS 37F-007.17 đi xuống đường đứng cạnh Đậu Văn T2 và Cao Văn H1 với mục đích tự vệ nếu bị tấn công và ngăn cản Nguyễn Đăng L, Chu Đình Q1 và Lê Thạc L2 lên xe ô tô BKS 37F-007.17 nên H5 không phạm tội. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với H5 về hành vi “Mang theo trong người đồ vật nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 7 Nghị Định 144 của Chính phủ.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi gây rối trật tự công cộng của bản thân và đồng phạm, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố các bị cáo.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKSNS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng L, Chu Đình Q1, Lê Thạc L2, Cao Văn H1, Nguyễn Bá Đ, Đậu Văn T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS và Nguyễn Sỹ T6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS. Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với hai bị cáo Nguyễn Đăng L và Lê Thạc L2 (Bị cáo L2 không được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS).
- Xử phạt: Nguyễn Đăng L từ 27 đến 28 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/12/2023.
- Lê Thạc L2 từ 25 đến 26 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/12/2023.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo T2, Quyền, H1 và Đ.
- Xử phạt: Đậu Văn T2 từ 25 đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Chu Đình Q1, Cao Văn H1 mỗi bị cáo từ 25 đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Nguyễn Bá Đ từ 24 đến 25 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Căn cứ: khoản 1 Điều 318, điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Nguyễn Sỹ T6 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Về phần dân sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin rút yêu cầu bồi thường dân sự của công ty A1 nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về phần vật chứng:
- Trả lại cho nhà xe A, 01 đầu thu nhãn hiệu Dahua, số S: 9D07E5BPCF2C260
- Trả lại cho nhà xe Nhuận Năm 01 camera màu đen, bên ngoài có chữ IMEI: 352538108261044, bên trong chứa 01thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 64GB; 01 SIM điện thoại có ghi: 898404800038133344 và các thiết bị dây nói kém theo và 04 tuýp sắt.
- Tịch thu tiêu huỷ 02 thanh gỗ mà H1 và T2 sử dụng khi phạm tội.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục THADS Thị xã N, Thanh Hoá.
- Trả lại cho Nguyễn Đăng L 01 giấy phép lái xe; Trả lại cho Đậu Văn T2 một giấy phép lái xe; Trả lại cho Nguyễn Sỹ T6 một giấy phép lái xe và trả lại cho ông Ngũ Thanh H3 một thẻ nhớ nhãn hiệu Netac.
- Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên toà, các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan Điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn. Tại phiên toà bị cáo Đậu Văn T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, thừa nhận hành vi lạng lách, đánh võng, chèn ép nhà xe Nhuận Năm do bị cáo Nguyễn Đăng L điều khiển trên đoạn đường QL1A từ ngã ba N đến địa phận TDP C, phường H, TX. N, Thanh Hóa. Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án vì vậy đủ cơ sở kết luận.
Do có mâu thuẫn trong việc tranh giành khách, nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, tuyến Quốc lộ A, đoạn từ ngã ba N thuộc xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đến tổ dân phố C, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa dài khoảng 80 km, Nguyễn Đăng L điều khiển xe ô tô khách 29H - 869.04; Đậu Văn T2 điều khiển xe ô tô BKS 37F-007.17 và Nguyễn Sỹ T6 điều khiển xe ô tô khách BKS 29B- 407.56 đã có hành vi điều khiển xe ô tô lùa đuổi, lạng lách, đánh võng, chèn ép, chặn xe nhau và cùng với các phụ xe là Chu Đình Q1, Lê Thạc L2, Cao Văn H1 và khách đi xe là Nguyễn Bá Đ tham gia chửi bới, thách thức và cầm hung khí dọa đánh nhau trên tuyến Quốc lộ A, gây náo loạn nơi công cộng, làm cản trở, ùn tắc giao thông, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây náo loạn, làm mất trật tự công cộng, gây nguy hiểm cho người, phương tiện tham gia giao thông trên tuyến Quốc lộ A và hành khách trên xe; gây ùn tắc, cản trở cho các phương tiện tham gia giao thông, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng số 59/CT-VKSNS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng L, Chu Đình Q1, Lê Thạc L2, Cao Văn H1, Nguyễn Bá Đ, Đậu Văn T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS và Nguyễn Sỹ T6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS.
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Do vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá truy tố là đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án hình sự gây rối trật tự công cộng nghiêm trọng và có tính chất đồng phạm giản đơn, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh dành khách đi xe mà các bị cáo đã có hành vi lùa đuổi, lạng lách, chèn ép xe trong quá trình tham gia giao thông trên tuyến đường QL1A, ngoài ra các bị cáo còn có hành vi dùng hung khí lùa đuổi, chửi bới nhau trên đường và là nguyên nhân trực tiếp gây ùn tắc, cản trở giao thông trên tuyến Quốc lộ A. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông đường bộ vì vậy cần phải lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo gây ra.
[4]. Xét về vai trò, hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò từ trước, nhưng khi lượng hình cần áp dụng Điều 17 và Điều 58 BLHS để phân hóa vai trò và hành vi của từng bị cáo để lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra. Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Nguyễn Đăng L, là người khởi xướng, trực tiếp điều khiển xe ô tô khách BKS 29H-869.04 lùa đuổi, lạng lách, đánh võng, chèn ép, chặn xe khách của Đậu Văn T2 và sử dụng ống tuýp sắt tham gia chửi bới, thách thức đánh nhau với nhóm của T2 nên có vai trò cầm đầu trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bản thân bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS vì vậy xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng phải xem xét đến quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo có tham gia tình nguyện viên xây dựng trường học cho trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS để lượng giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Để bị cáo thấy được tính nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo Đậu Văn T2 là người điều khiển xe ô tô khách BKS 37F-007.17, đã có hành vi lùa đuổi, chèn ép, lạng lách đối với xe của L, có hành vi dùng gậy gỗ tham gia chửi bới, đánh nhau với nhóm của L nên T2 có vai trò thứ hai trong vụ án và chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo T2 nhưng cao hơn các bị cáo khác. Xét nhân thân bị cáo HĐXX thấy bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, nguyên nhân xuất phát từ việc bị bị cáo L khiêu khích từ trước, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của địa phương, có nhiều đóng góp xây dựng các quỹ vì người nghèo trên địa bàn vì vậy khi lượng hình bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định nên nghĩ chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Thạc L2 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, đã trực tiếp cầm hung khí tham gia lùa đuổi, chửi bới nhau trên đường. Xét hành vi phạm tội của bị cáo sau bị cáo T2 nhưng xét nhân thân của bị cáo HĐXX thấy bản thân bị cáo vừa chấp hành xong 13 tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng”, chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội điều này chứng tỏ bị cáo không chịu cải tạo bản thân nên cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt ngang với bị cáo T2 và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo thấy được tính nghiêm khắc của pháp luật. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Đối với các bị cáo Chu Đình Q1, Cao Văn H1 tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức đã cầm hung khí để tham gia chửi bới, lùa đuổi nhau nên các bị cáo phạm tội có vai trò ngang nhau. Bản thân các bị cáo đều phạm tội lần đầu, quá trình sinh sống tại địa phương đều chấp hành tốt đường lối, chính sách, không vi phạm pháp luật. Bị cáo Nguyễn Bá Đ do có mối quan hệ quen biết với Chu Đình Q1 nên khi xảy ra sự việc đã tham gia cùng với Q1 và L tuy nhiên mức độ tham gia không đáng kể nên có vai trò thấp hơn các bị cáo và chịu mức hình phạt thấp hơn các bị cáo.
Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo Nguyễn Bá Đ đã đóng góp vào quỹ vì người nghèo, có ông bà nội là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo đã thực hiện nghĩa vụ quân sự, bị cáo Chu Đình Q1 trong thời gian tháng 11/2021, đã ủng hộ phong trào phòng chống cô vít và cứu giúp người bị nạn vào năm 2022 có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo Cao Văn H1 đã có đóng góp cho quỹ tết vì người nghèo và các quỹ tình thương. Vì vậy các bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú ổn định, phạm tội mang tính chất nhất thời nên cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Nguyễn Sỹ T6 có hành vi điều khiển xe khách BKS 29B- 407.56 chặn đầu xe do bị cáo T2 điều khiển. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức đơn giản nhưng cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mình gây ra. Bản thân bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bố mẹ là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm I khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định nên không cần thiết cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5]. Về phần dân sự: Công ty TNHH A1 đã có đơn xin rút yêu cầu bồi thường dân sự, tại phiên toà anh Ngô Sỹ B1 đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết phần bồi thường dân sự và không có đề nghị gì khác xét thấy đây là ý chí tự nguyện nên được HĐXX chấp nhận.
[5]. Xét về phần vật chứng: đầu thu nhãn hiệu Dahua, số S:9D07E5BPCF thuộc quyền sở hữu của nhà xe A nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
- 01 camera, 01 sim điện thoại và các thiết bị dây nói kèm theo; 04 tuýp sắt thuộc quyền sở hữu của nhà xe của nhà xe N2, nhà xe Nhuận Năm không biết các bị cáo sử dụng tuýp sắt làm công cụ phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
- Đậu Văn T2 và Cao Văn H1 sử dụng 02 thanh gỗ để thực hiện hành vi phạm phạm tội của mình nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục THADS Thị xã N, Thanh Hoá.
- Đối với giấy phép lái xe của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo và trả lại cho ông Ngũ Thanh H3 một thẻ nhớ nhãn hiệu Netac.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS đối với hai bị cáo Nguyễn Đăng L và Lê Thạc L2 (Bị cáo L2 không được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS).
Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo T2, H1, Q1 và Đ.
- Khoản 1 Điều 318, điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T6.
Tuyên bố: Các bị cáo: Nguyễn Đăng L, Chu Đình Q1. Lê Thạc L2, Đỗ Văn T8, Cao Văn H1, Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Sỹ T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt: Nguyễn Đăng L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/12/2023.
- Lê Thạc L2 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/12/2023.
- Đậu Văn T2 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Chu Đình Q1, Cao Văn H1 mỗi bị cáo 25 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Bá Đ 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Sỹ T6 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo: Đậu Văn T2 về cho chính quyền UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Chu Đình Q1 về cho chính quyền UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Cao Văn H1 về cho chính quyền UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Bá Đ về cho chính quyền UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Sỹ T6 về cho chính quyền UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An quản lý và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về phần vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Trả lại cho nhà xe A, một đầu thu nhãn hiệu Dahua, số S:9D07E5BPCF2C260 được cho vào hộp cát tông dán kín niêm phong của các thành phần tham gia và hình dấu đỏ niêm phong của CQCS điều tra Công an thị xã N.
- Trả lại cho nhà xe N2: 02 tuýp sắt có đặc điểm tương đồng nhau, mỗi tuýp sắt có chiều dài 80 cm, đường kính 2,1 cm; 01 tuýp sắt có chiều dài 79,5 cm, đường kính 2,7 cm; 01 tuýp sắt có chiều dài 79,8 cm, đường kính 2,7 cm tất cả được đánh số và chụp ảnh sau đó niêm phong vào trong một thùng bìa cát tông, dán kín bên ngoài, được dán giấy niêm phong, có chữ ký của những người tham gia trong biên bản hình dấu đỏ niêm phong của CQCS điều tra Công an thị xã N; 01 camera màu đen, bên ngoài có chữ IMEI: 352538108261044, bên trong chứa 01thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk, dung lượng 64GB; 01 SIM điện thoại có ghi: 898404800038133344 và các thiết bị dây nói kèm theo. Được cho vào một hộp cát tông màu vàng, kích thước (17x15x14) cm được dán kín niêm phong bởi chữ ký đứng tên Nguyễn Đăng Đ1, Nguyễn Trọng B2 và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng K1 – Công an tỉnh T.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh gỗ thẳng đã được bào nhẫn ở các cạnh có chiều dài 70,3 cm, một đầu to có kích thước (5,1 x 3,4)cm, đầu nhỏ kích thước (4,4 x 3,0)cm được cho vào thùng bìa cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Thanh Hoá; 01 thanh gỗ thẳng đã được bào nhẫn ở các cạnh có chiều dài 69,5 cm, một đầu to có kích thước (5,1 x 3,2)cm, đầu nhỏ kích thước (4,3 x 3,2)cm được cho vào thùng bìa cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Thanh Hoá.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục THADS Thị xã N, Thanh Hoá theo phiếu nhập kho số NK2024/61, ngày 25/3/2024.
Trả lại cho Nguyễn Đăng L 01 giấy phép lái xe; Trả lại cho Đậu Văn T2 một giấy phép lái xe; Trả lại cho Nguyễn Sỹ T6 một giấy phép lái xe và trả lại cho ông Ngũ Thanh H3 một thẻ nhớ nhãn hiệu Netac. Toàn bộ số tài liệu này hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, anh B2, vắng mặt anh H3. Những người có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: o có mâu thuẫn trong việc tranh giành khách, nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, tuyến Quốc lộ A, đoạn từ ngã ba N thuộc xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đến tổ dân phố C, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa dài khoảng 80 km, Nguyễn Đăng L điều khiển xe ô tô khách 29H - 869.04; Đậu Văn T2 điều khiển xe ô tô BKS 37F-007.17 và Nguyễn Sỹ T6 điều khiển xe ô tô khách BKS 29B- 407.56 đã có hành vi điều khiển xe ô tô lùa đuổi, lạng lách, đánh võng, chèn ép, chặn xe nhau và cùng với các phụ xe là Chu Đình Q1, Lê Thạc L2, Cao Văn H1 và khách đi xe là Nguyễn Bá Đ tham gia chửi bới, thách thức và cầm hung khí dọa đánh nhau trên tuyến Quốc lộ A, gây náo loạn nơi công cộng, làm cản trở, ùn tắc giao thông, gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn.
