|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST.
Ngày: 21-8-2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
2. Bà Bùi Thị Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Đoan T - Chức danh: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh N (Theo Quyết định V/v ủy quyền ký hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Ngọc V - Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh N (Theo Giấy ủy quyền số 64/2024/GUQ-CNNT ngày 11/4/2024 V/v tham gia tố tụng và thi hành án) (Có mặt).
2/ Bị đơn: Bà Phạm Thị H1 - Sinh năm 1973 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà D, khu phố C, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Phạm Ngọc V trình bày:
Ngày 27/12/2022 bà Phạm Thị H1 ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng 01 thẻ tín dụng; bao gồm: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân (Viết tắt là Hợp đồng) và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Viết tắt là Bản điều khoản và điều kiện) - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ yêu cầu của bà H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); lãi suất 2,77%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.200.000 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Bà Phạm Thị H1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện; chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10.100.000 đồng (Chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện; cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- - Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước.
- - Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt của kỳ trước.
- - Giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước.
- - Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ.
- - Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt trong kỳ.
- - Giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến trong kỳ.
Do bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Sau đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 29.323.813 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng tại phiên tòa, ông Phạm Ngọc V đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bà Phạm Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 29.062.241 đồng; trong đó: Số tiền gốc là 19.323.813 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 9.738.428 đồng. Buộc bà Phạm Thị H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là bà Phạm Thị H1: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Phạm Thị H1 không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị H1 phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 27/12/2022. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố C, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là bà Phạm Thị H1 không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1.1] Ngày 27/12/2022, bà Phạm Thị H1 ký kết với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng 01 thẻ tín dụng; bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện. Căn cứ yêu cầu và thu nhập của bà H1; Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng.
[2.1.2] Sau khi ký hợp đồng, bà Phạm Thị H1 đã được Ngân hàng cấp 01 thẻ tín dụng và nhận đủ số tiền hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng. Như vậy Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng và bà Phạm Thị H1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của Hợp đồng đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp. Theo các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp thì từ ngày kích hoạt thẻ; bà H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.200.000 đồng và đến khi ngưng thanh toán đã trả Ngân hàng số tiền 8.100.000 đồng. Sau đó bà H1 không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng nữa mặc dù đã được Ngân hàng Đ, nhắc nhở nhiều lần.
[2.1.3] Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Phạm Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng, đã vi phạm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, bà H1 là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ Hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về lãi suất:
[2.2.1] Các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng; lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện). Mức lãi suất này được quy định cụ thể tại Hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện của Ngân hàng. Ngân hàng đã niêm yết công khai mức lãi suất tại thời điểm cho vay đối với hình thức sử dụng thẻ tín dụng cá nhân; bà H1 đã biết và thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng trong các lần thực hiện giao dịch rút tiền mà không có ý kiến hay khiếu nại gì.
[2.2.2] Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Phạm Thị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện) nên ngày 10/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và đã chuyển toàn bộ dư nợ của thẻ tại thời điểm này là 29.323.813 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là đúng theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện; phù hợp với Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng; phù hợp với Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001; phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về các loại phí liên quan đến thẻ: Các bên đã thỏa thuận về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện. Bà Phạm Thị H1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện; chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Căn cứ các biểu phí đã được Ngân hàng niêm yết công khai tại thời điểm ký Hợp đồng, đã được thỏa thuận giữa Ngân hàng và bà Phạm Thị H1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, phù hợp với khoản 1, khoản 3 Điều 6 của Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 về việc ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ Ngân hàng và phù hợp với khoản 1 Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Phạm Thị H1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 22/8/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Từ các phân tích như trên, thấy rằng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị H1 trả tổng số tiền là 29.062.241 đồng; trong đó: Số tiền gốc là 19.323.813 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 9.738.428 đồng phát sinh từ Hợp đồng; phù hợp với quy định tại các Điều 466, 468 của Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Phạm Thị H1, có nội dung thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H1 phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng nhưng bà H1 không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà H1 đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ngân hàng yêu cầu bà Phạm Thị H1 trả số tiền 29.062.241 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn là bà Phạm Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.453.000 đồng (Đã làm tròn).
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
1. Buộc bà Phạm Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tổng cộng là 29.062.241 đồng (Hai mươi chín triệu, không trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm bốn mươi mốt đồng); trong đó: Số tiền gốc là 19.323.813 đồng (Mười chín triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm mười ba đồng); Số tiền lãi quá hạn là 9.738.428 đồng (Chín triệu, bảy trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm hai mươi tám đồng).
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 22/8/2024), bà Phạm Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí:
3.1. Bà Phạm Thị H1 phải chịu 1.453.000 đồng (Đã làm tròn) (Một triệu, bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
3.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 864.000 đồng (Tám trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002676 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành dân sự thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21/8/2024); bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S + Phạm Thị H
