|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày: 21/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nhánh
- Bà Nguyễn Thị Mai
Thư ký phiên toà: Ông Thái Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
- Bị đơn: Bà Bùi Thị Bích L, Sinh năm: 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Lầu A, Sài Gòn R, số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee J – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: tổ C, ấp L, xã L, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/11/2020 Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 1776160 (gọi tắt là HĐTD) về việc cấp tín dụng cho bà Bùi Thị Bích L với khoản vay trị giá 36.925.000 đồng. Sau đó, Công ty đã giải ngân chuyển vào tài khoản cá nhân theo đúng quy định trong HĐTD cho bà Bùi Thị Bích L. Theo HĐTD, bà Bùi Thị Bích L có nghĩa vụ trả góp hàng tháng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/12/2020 đến ngày 10/11/2023 cho Công ty.
Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Bùi Thị Bích L chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 21 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 25.814.351 đồng (Trong đó, tổng gốc đã trả là 0 đồng và lãi, phí đã trả là 25.812.299 đồng, lãi chậm trả đã thanh toán là 2.052 đồng). Ngày 11/08/2022 đến nay bà Bùi Thị Bích L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo HĐTD đã ký kết với Công ty.
Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu bà Bùi Thị Bích L thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà Bùi Thị Bích L biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà Bùi Thị Bích L vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty.
Nay Công ty khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Bích L thanh toán cho Công ty tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2024 là: 77.920.442 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 36.925.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 11.640.807 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 27.567.390 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.787.245 đồng.
Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị Bích L phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 22/08/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nêu trên.
Bị đơn bà Bùi Thị Bích L đã được Tòa án thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà L không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, chỉ có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, xin phép xét xử vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Phạm Thành N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ có nhận đơn khởi kiện của Công ty T (Việt Nam). Hình thức, nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015. Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ đã thụ lý vụ án và phân công thẩm phán giải quyết vụ án không đúng Khoản 2 Điều 191 BLTTDS 2015; Đúng Điều 195; Điều 196; Điều 197 BLTTDS. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đúng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn cư trú ở huyện C, Tp . nên thẩm quyền thụ lý vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015. Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Thủ tục nhận đơn khởi kiện: vi phạm Khoản 2 Điều 191 BLTTDS 2015. Về thu thập chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết đến thời điểm này thấy rằng bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vụ án được thụ lý từ ngày 17 tháng 01 năm 2024, đến ngày 05 tháng 8 năm 2024 Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định. Tòa án có cấp đầy đủ văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và đương sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015; Điều 463; 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Về quan hệ tranh chấp: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền đến ngày 21/8/2024 là 77.920.442 đồng. Trong đó: nợ gốc còn lại chưa thanh toán 36.925.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 11.640.807 đồng, số tiền lãi quá hạn: 27.567.390 đồng, số tiền lãi chậm trả: 1.787.245 đồng.
Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị Bích L thanh toán khoản tiền theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 1776160 ngày 17/11/2020, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn là bà Bùi Thị Bích L có nơi cư trú tại tổ C, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về sự vắng mặt của đương sự:
Tòa án đã đã triệu tập hợp lệ các đương sự để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét HĐTD, Hội đồng xét xử thấy: Khi ký kết hợp đồng, các bên đương sự hoàn toàn tự nguyện, hình thức, nội dung hợp đồng không trái đạo đức, xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên từ thời điểm giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385, Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Do bị đơn bà Bùi Thị Bích L không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét; Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để xem xét giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.1]. Xét yêu cầu trả nợ gốc:
Trong quá trình thực hiện HĐTD, bà Bùi Thị Bích L đã vi phạm thỏa thuận tại mục 3.6 Khoản 3 HĐTD kể từ ngày 11/08/2022 đến nay. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 36.925.000 đồng.
[2.2]. Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:
Theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Từ ngày 11/08/2022, bà Bùi Thị Bích L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Công ty đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là phù hợp theo thỏa thuận tại Mục 8.3 của HĐTD.
Tại Mục 3.7 và 3.8 Điều 1 của Khoản 3 HĐTD, các bên thỏa thuận về lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền lãi trong hạn: 11.640.807 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 27.567.390 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.787.245 đồng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/08/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nêu trên là phù hợp theo quy định tại 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Bùi Thị Bích L có nghĩa vụ trả nợ với số tiền tạm tính đến ngày đến ngày 21/08/2024 là: 77.920.442 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 40; Điều 117; Điều 385; Điều 401; Điều 463; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam) đối với bà Bùi Thị Bích L.
Buộc bà Bùi Thị Bích L có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 1776160 ngày 17/11/2020 tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2024 là: 77.920.442 (bảy mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi ngàn, bốn trăm bốn mươi hai) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 36.925.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 11.640.807 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 27.567.390 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.787.245 đồng.
Thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 22/8/2024, bà Bùi Thị Bích L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 1776160 ngày 17/11/2020 cho đến khi thi hành án xong.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Bùi Thị Bích L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.896.022 (ba triệu tám trăm chín mươi sáu ngàn không trăm hai mươi hai) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Công ty T (Việt Nam) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.329.078 đồng theo biên lai số 0034514 ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Minh |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tín dụng
