Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12-VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-12-2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chí Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Thanh Xuân;

Ông Đặng Lễ Nghi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12-Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Quốc H, sinh năm 1972 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Minh S, sinh năm 1976 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 11 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trương Quốc H là nguyên đơn trình bày:

Ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S chung sống vào năm 1991, không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống có con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên không duy trì được hạnh phúc nên ông H và bà S đã không còn sống chung với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Nay ông Trương Quốc H xác định vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị Minh S.

- Về con chung: Con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông Trương Quốc H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Trương Quốc H khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Lê Thị Minh S là bị đơn có lời khai trình bày:

Bà S và ông H chung sống vào năm 1991 không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống có con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên không duy trì được hạnh phúc nên không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay.

Nay ông Trương Quốc H yêu cầu ly hôn thì bà S xét thấy không còn tình cảm với ông Trương Quốc H nữa nên cũng đồng ý ly hôn với ông H.

- Về con chung: Con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Minh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Minh S khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại ấp X, xã P, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12-Vĩnh Long theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Trương Quốc H và bị đơn bà Lê Thị Minh S vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Quốc H trình bày ông và bà Lê Thị Minh S chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1991, không có đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông H và bà S đã không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông Trương Quốc H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trương Quốc H yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Minh S. Đồng thời theo lời khai của bà S trong quá trình giải quyết vụ án, bà S cũng xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, bà S đồng ý ly hôn với ông H. Do ông Trương Quốc H và bà S chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1991, mà không có đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử không công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S được mà áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S.

[4] Về con chung: Ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S khai con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về chia tài sản: Ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S khai không tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về nợ chung: Ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S khai không có, không tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Ông Trương Quốc H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S là vợ chồng.

Về con chung: Ông Trương Quốc H và bà Lê Thị Minh S khai con chung tên Trương Quốc R, sinh ngày 13/11/1992 và Trương Thị Kim D, sinh ngày 03/7/1999 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Ông Trương Quốc H không tranh chấp với bà Lê Thị Minh S nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông Trương Quốc H không tranh chấp với bà Lê Thị Minh S nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Trương Quốc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010081 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ông Trương Quốc H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Quốc H và bị đơn bà Lê Thị Minh S vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 12-Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - UBND xã Phong Thạnh, tỉnh Vĩnh Long
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Út N đồng ý trả cho ông Đinh Văn U số tiền hụi còn thiếu là 9.600.000 đồng trong dây hụi mở ngày 25/5/2022 (âm lịch), hụi loại 2.000.000 đồng. Ông Đinh Văn U không yêu cầu tính lãi.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger