Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 09-12-2025

V/v: “Tranh chấp chia tài sản sau

khi ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Thiện Tâm
  2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con”

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An (nay là Ấp R, xã V, tỉnh Tây Ninh).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp). Theo văn bản ủy quyền ngày 28/12/2023.

  1. Bị đơn: Ông Lê Văn Ý, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Ấp R, xã V, huyện T, tỉnh Long An (nay là Ấp R, xã V, tỉnh Tây Ninh).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Ý: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là Ấp C, xã H, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024.

  1. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn Ý

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2023 và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày: Bà Trần Thị Đ và ông Lê Văn Ý kết hôn năm 2004 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 19/7/2004. Ngày 22/8/2023 Tòa án đã giải quyết cho bà Đ và ông Ý ly hôn. Theo quyết định của Tòa án thì bà Đ được quyền nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà Đ, ông Ý có tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa số 81, tờ bản đồ số 20, diện tích 26.816m², diện tích đo thực tế là 25.981m² được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/3/2006, do ông Lê Văn Ý đứng tên

Nay bà Trần Thị Đ yêu cầu:

Về cấp dưỡng nuôi con ông Lê Văn Ý cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013 hàng tháng số tiền 4.000.000 đồng/02 con/01 tháng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Yêu cầu chia đôi phần đất có diện tích 18.498m², tại một phần thửa 81 tờ bản đồ số 20 đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 22/7/2024.

Đối với diện tích đất 402m², tại một phần thửa 184; diện tích 407m², tại một phần thửa 135; diện tích 6.081m², tại một phần thửa 183 và diện tích 593m², tại một phần thửa 71 hiện nay bà Đ và ông Ý đang sử dụng thực tế nhưng qua xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T thể hiện tại công văn số: 1842/CNVPĐKĐĐ xác định phần đất này không tìm thấy thông tin về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà Trần Thị Đ chưa khởi kiện chia đối với các phần đất này. Đối với phần còn lại tại một phần thửa 81 tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An hiện nay do người khác sử dụng từ trước đến nay, thì bà Đ cũng không có tranh chấp. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Bị đơn ông Lê Văn Ý có người đại diện ông Nguyễn Thanh H trình bày: ông H thống nhất việc ông Lê Văn Ý và bà Trần Thị Đ có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 19/7/2004 và đã ly hôn ngày 22/8/2023. Theo quyết định của Tòa án thì bà Đ được quyền nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013.

Đối với quyền sử dụng đất tại thửa số 81, tờ bản đồ số 20 đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An là tài sản riêng của ông Lê Văn Ý nên ông Ý không đồng ý với yêu cầu của bà Trần Thị Đ. Nay ông là người đại diện hợp pháp của ông Lê Văn Ý có ý kiến như sau:

Về cấp dưỡng: Ông Lê Văn Ý đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013 hàng tháng số tiền 1.000.000 đồng/02 cháu/01 tháng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Ông Lê Văn Ý thống nhất chỉ giải quyết đối với phần đất có diện tích đo thực đế là 18.498m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An theo trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 22/7/2024, nhưng đây là tài sản riêng của ông Lê Văn Ý nên không đồng ý chia theo yêu cầu của bà Trần Thị Đ. Ông xác định nguồn gốc quyền sử dụng đất do cha ruột của ông Ý nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn X vào năm 2000. Sau đó, cha ông Ý cho riêng ông Lê Văn Ý, đến năm 2006 ông Lê Văn Ý được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đây là tài sản riêng của ông Lê Văn Ý.

Đối với diện tích 402m², tại một phần thửa 184; diện tích 407m², tại một phần thửa 135; diện tích 6.081m², tại một phần thửa 183 và diện tích 593m², tại một phần thửa 71 hiện nay bà Đ, ông Ý đang sử dụng. Đối với phần còn lại tại một phần thửa 81 tờ bản đồ số 20 đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An hiện nay do người khác sử dụng từ trước đến nay thì ông Ý cũng không có tranh chấp. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh) đã tuyên:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ đối với ông Lê Văn Ý về tranh chấp “yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản chung”

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Lê Văn Ý phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013 mỗi tháng với số tiền là 4.000.000 đồng cho cả hai con. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 6/2025 cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

  1. Về tài sản chung: Xác định phần đất có diện tích 18.498m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An là tài sản chung của ông Lê Văn Ý và bà Trần Thị Đ. Chia phần diện tích đất 18.498m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An, bà Trần Thị Đ được nhận phần đất có diện tích 9.262m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An, ông Lê Văn Ý được nhận phần đất có diện tích 9.236m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An trong tổng số diện tích 18.498m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An.

- Phần đất bà Trần Thị Đ được chia và ông Lê Văn Ý phải có nghĩa vụ giao trả có vị trí tiếp giáp như sau:

  • + Hướng Bắc giáp: Bờ kênh, dài 21,73m;
  • + Hướng Nam giáp: mpt 135, dài 14,49m;
  • + Hướng Đông giáp: mpt 81, dài 492,08m;
  • + Hướng tây giáp: mpt 183, dài 469,14m.

- Phần đất ông Lê Văn Ý được chia có vị trí tiếp giáp như sau:

  • + Hướng Bắc giáp: Bờ kênh, dài 21,73m;
  • + Hướng Nam giáp: mpt 135, dài 10,49m;
  • + Hướng Đông giáp: mpt 184, dài 112,74m và mpt 81, dài 377,17m;
  • + Hướng Tây giáp: mpt 81, dài 492,08m.

(Tất cả được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 42-2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T, ký duyệt ngày 22/7/2024 và mảnh trích đo địa chính số 02-2025 của Chi nhánh văn phòng Đ2, ký duyệt ngày 13/5/2025 kèm theo)

Ông Lê Văn Ý, bà Trần Thị Đ được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, đăng ký theo quy định của pháp luật.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 19/05/2025, ông Lê Văn Ý kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ đối với phần tài sản.

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện không rút đơn kháng cáo, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút đơn kháng cáo, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Thị Đ có người đại diện theo ủy quyền là Nguyễn Thanh L và bị đơn ông Lê Văn Ý có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh H không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các bên không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn Ý do Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ về việc chia phần đất trên mỗi người ½ diện tích là có căn cứ. Tuy nhiên, diện tích đất

đo thực tế của phần đất tranh chấp là 18.498m² nên mỗi người được chia 9.249m² của thửa đất số 81, nhưng Tòa sơ thẩm chia cho bà Đ diện tích 9.262m² và ông Ý diện tích 9.236m² tại một phần thửa số 81, như vậy bà Đ được chia nhiều hơn ½ diện tích đất là 13m² tương đương 846.040 đồng (13m² x 65.080₫) nhưng Tòa sơ thẩm không buộc bà Đ hoàn trả số tiền này lại cho ông Ý là không phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn bà Đ đồng ý giao phần đất có diện tích lớn hơn cho bị đơn ông Ý, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét lại phần án phí của vụ án cho phù hợp.

Ngoài ra, tại phần quyết định của bản án tuyên “1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ1 đối với ông Lê Văn Ý ...” là không đúng tên của bà Trần Thị Đ cần chỉnh sửa lại. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của ông Lê Văn Ý được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc có mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về nội dung: ông Lê Văn Ý kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ đối với phần tài sản. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo của ông Ý.

[2.1] Về tài sản: Bà Đ xác định trong thời gian chung sống với ông Lê Văn Ý, vợ chồng có tạo lập được khối tài sản chung gồm: Diện tích đất 18.498m², tại thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An. Ông Lê Văn Ý thừa nhận ngày 17/3/2006 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, ông Ý cho rằng đây là tài sản riêng của ông và ông có cung cấp giấy xác nhận của các hộ dân sống xung quanh. Xét thấy, ngày 17/3/2006 ông Lê Văn Ý được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An là trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Đ và ông Ý. Trong đơn xin đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ý kê khai được Ủy ban nhân dân xã V xác nhận ngày 12/12/2005 là quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp. Mặt khác, ông Ý, bà Đ sử dụng quyền sử dụng đất này ổn định từ năm 2006 đến nay không ai tranh chấp.

Mặt khác, trong thời gian sử dụng đất ông Ý, bà Đ cũng không có văn bản nào khác thỏa thuận đây là tài sản riêng và cả hai người đều sử dụng đất làm phát sinh hoa lợi để phục vụ vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cho gia đình nên lời trình bày của ông Lê Văn Ý là không có cơ sở chấp nhận. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất mà ông Lê Văn Ý đang đứng tên là tài sản chung của bà Đ, ông Ý là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 33 luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm chỉ xác định quyền sử dụng đất tranh chấp là tài sản chung, nhưng không nhận định là chia cho bà Đ và ông Ý mỗi người diện tích đất bao nhiêu và nằm tại vị trí nào theo Mảnh trích đo là thiết sót, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cần phải xem xét lại phần này cho phù hợp. Xét thấy, phần diện tích đất 18.498m²chia cho bà Đ và ông Ý mỗi người ½ diện tích. Mặt khác, về hình thể đất chia đều ½ không thực hiện được, nên Tại bản án sơ thẩm chia cho bà Đ diện tích đất 9.262 m² (nhiều hơn ông Ý 13m²), chia cho ông Ý 9.236 m², nhưng tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà Đ đồng ý chia cho ông Ý diện tích đất phần nhiều hơn 9.262 m², bà Đ xin nhận phần ít hơn là 9.236 m². Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà Đ và có lợi cho ông Ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.2] Từ những phân tích trên: Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn Ý không có căn cứ, nên không chấp nhận.

  1. Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản số tiền 23.979.000 đồng, do yêu cầu của bà Đ được chấp nhận nên ông Lê Văn Ý, bà Trần Thị Đ mỗi người phải chịu ½. Bà Trần Thị Đ đã nộp tạm ứng toàn bộ, nên ông Lê Văn Ý phải có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Trần Thị Đ số tiền 11.989.000 đồng.
  1. Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Lê Văn Ý, bà Trần Thị Đ phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm trên tài sản được nhận.
  1. Về án phí phúc thẩm: ông Lê Văn Ý phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của: ông Lê Văn Ý

Sửa một phần Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh).

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 33, Điều 59, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 6, Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ đối với ông Lê Văn Ý về tranh chấp “yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản chung”.
  1. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Lê Văn Ý phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Lê Thị Ánh T, sinh ngày: 27/7/2008 và Lê Văn Hoài T1, sinh ngày: 18/5/2013 hàng tháng, mỗi tháng với số tiền là 4.000.000 đồng cho cả hai con. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 6/2025 cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
  1. Về tài sản chung: Xác định phần đất có diện tích 18.498m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An là tài sản chung của ông Lê Văn Ý và bà Trần Thị Đ.
  1. Buộc ông Lê Văn Ý giao cho bà Trần Thị Đ diện tích đất 9.236m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An. Vị trí đất tại Khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 02a-2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T, ký duyệt ngày 08/12/2025 và mảnh trích đo địa chính số 02-2025 của Chi nhánh văn phòng Đ2, ký duyệt ngày 13/5/2025 kèm theo).
  1. Ông Lê Văn Ý được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 9.262m², tại một phần thửa số 81, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh Long An. Vị trí đất tại Khu A theo Mảnh trích đo địa chính số 02a-2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T, ký duyệt ngày 08/12/2025 và mảnh trích đo địa chính số 02-2025 của Chi nhánh văn phòng Đ2, ký duyệt ngày 13/5/2025 kèm theo).
  1. Ông Lê Văn Ý, bà Trần Thị Đ được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết vụ án. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản số tiền 23.979.000 đồng. Buộc ông Lê Văn Ý, bà Trần Thị Đ mỗi người phải chịu ½. Bà Trần Thị Đ đã nộp tạm ứng toàn bộ, nên ông Lê Văn Ý phải có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Trần Thị Đ số tiền 11.989.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí sơ thẩm:
  1. Buộc ông Lê Văn Ý phải chịu 28.110.000 đồng.
  2. Buộc bà Trần Thị Đ phải chịu 28.043.000 đồng án phí, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.300.000 đồng theo biên lai thu số 0001964 ngày 09/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, bà Đ còn phải nộp tiếp số tiền 16.743.000 đồng.
  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn Ý phải chịu 300.000 đồng án phí, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001721 ngày 19/05/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Tây Ninh.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm – Nguyễn Quốc TuấnPhùng Thị Cẩm Hồng

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 9 - Tây Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 9 - Tây Ninh;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ghi nhận sự tự nguyện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger